Một công ty thức ăn chăn nuôi kiện đòi khách hàng 5.741.497.413 đồng: nợ gốc, lãi chậm trả và phạt vi phạm 8%. Toà sơ thẩm chấp nhận toàn bộ. Toà phúc thẩm sửa án — chỉ còn 3.779.046.613 đồng.
Gần 2 tỷ đồng bốc hơi, không phải vì khoản nợ sai, mà vì hai chi tiết trong hồ sơ chứng từ. Bản án số 98/2024/KDTM-PT ngày 16/12/2024 của Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là bài học sát sườn với mọi doanh nghiệp đang bán hàng công nợ.
Vụ việc
Công ty TNHH C ký Hợp đồng mua bán thức ăn gia súc ngày 11/01/2016 với bà B — chủ một trại chăn nuôi tại Đồng Nai. Quan hệ mua bán kéo dài qua nhiều hợp đồng, có cả nợ cũ từ năm 2015.
Ngày 20/6/2016, công ty lập “Bảng chi tiết công nợ”. Công ty tính bà B còn nợ 3.329.247.562 đồng; bà B chỉ xác nhận 3.202.581.875 đồng. Con trai bà viết tay nội dung, bà ký tên bên dưới.
Đó là tờ giấy quyết định toàn bộ vụ án.
Khi ra Toà, công ty yêu cầu ba khoản: nợ gốc 3.202.581.875 đồng; lãi chậm thanh toán 0,833%/tháng trong 91 tháng bằng 2.427.653.138 đồng; và phạt vi phạm 8% trên 1.390.780.000 đồng bằng 111.262.400 đồng. Tổng 5.741.497.413 đồng.
Bà B phản đối, cho rằng bà không hề ký hợp đồng vì năm 2016 bà đang sống ở Hà Nội.
Nợ gốc: thắng nhờ một chữ ký, không phải nhờ hoá đơn
Đây là phần đáng chú ý nhất. Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện nguyên đơn xuất trình các chứng từ thể hiện công ty có xuất hàng cho bà B. Toà không chấp nhận:
“Những chứng từ này không do bà B ký nhận nên không được chấp nhận là chứng cứ để chứng minh việc xuất hàng cho bà B.”
Nói cách khác: phiếu xuất kho do chính mình lập, không có chữ ký người nhận, không chứng minh được điều gì. Rất nhiều doanh nghiệp bán hàng công nợ đang lưu trữ đúng loại chứng từ này và tin rằng mình có hồ sơ chắc chắn.
Thứ cứu vụ kiện là Bảng chi tiết công nợ ngày 20/6/2016. Con trai bà B thừa nhận chữ viết là của ông, còn chữ ký là do mẹ ông tự nguyện ký sau khi ông viết. Từ sau ngày chốt nợ đó, phía bà B không chứng minh được đã thanh toán thêm đồng nào.
Toà buộc trả đủ nợ gốc 3.202.581.875 đồng.
Toà cũng ghi nhận thẳng rằng trong quá trình thực hiện hợp đồng, cả hai bên đều không tuân thủ nhiều điều khoản: công ty giao hàng không có ký nhận; công ty không yêu cầu thanh toán khi số nợ vượt quá giá trị chứng thư bảo lãnh ngân hàng mà vẫn tiếp tục giao hàng. Chính vì vậy Bảng chi tiết công nợ được coi là chứng từ thay thế cho biên bản thanh lý hợp đồng.
Mất 1,85 tỷ tiền lãi: vì bảng công nợ không ghi hạn thanh toán
Toà sơ thẩm tính lãi 0,833%/tháng trong 91 tháng kể từ ngày 21/6/2016 — ngay sau ngày chốt nợ. Toà phúc thẩm bác cách tính đó:
“Trong Bảng chi tiết công nợ ngày 20/6/2016 chỉ có nội dung xác nhận số tiền nợ, không có thời hạn thanh toán. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm buộc bị đơn chịu tiền phạt vi phạm hợp đồng và tiền lãi chậm trả tính từ ngày xác nhận nợ đến ngày xét xử sơ thẩm là không đúng.”
Một biên bản đối chiếu công nợ mà không ghi “bên B cam kết thanh toán toàn bộ số tiền trên trước ngày…” thì không tạo ra thời điểm chậm trả — và không có chậm trả thì không có lãi.
Và mất thêm vì đơn khởi kiện ban đầu
Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn chỉ yêu cầu tính lãi trong 30 tháng với mức 0,6%/tháng. Tại phiên toà sơ thẩm, họ nâng lên 91 tháng và 0,833%/tháng. Toà phúc thẩm xác định việc này vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu và gây bất lợi cho bị đơn, nên không được chấp nhận theo khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Kết quả: lãi chỉ còn 3.202.581.875 × 0,6%/tháng × 30 tháng = 576.464.738 đồng, thay vì 2.427.653.138 đồng.
Mất toàn bộ phạt vi phạm 8%
Khoản phạt 111.262.400 đồng bị bác cùng lý do: không xác định được thời điểm vi phạm nghĩa vụ thanh toán, thì không có căn cứ phạt.
Tổng kết: đòi 5.741.497.413 đồng, được 3.779.046.613 đồng. Và vì phần không được chấp nhận là 1.962.450.800 đồng, nguyên đơn phải chịu 70.873.524 đồng án phí sơ thẩm cho phần thua — nộp thêm gần 15 triệu ngoài tiền tạm ứng đã nộp.
Điểm sáng: phong toả tài sản trước khi xử
Nguyên đơn đã yêu cầu và được Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong toả tài sản của người có nghĩa vụ (Quyết định số 13/2023/QĐ-BPKCTT ngày 17/7/2023), phong toả 5.185.636.003 đồng.
Để được áp dụng, họ phải nộp 5 tỷ đồng tiền bảo đảm vào tài khoản phong toả theo quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm.
Sau bản án phúc thẩm, Toà duy trì phong toả đúng phần 3.779.046.613 đồng cho tới khi thi hành án xong, huỷ phần còn lại, và trả lại toàn bộ 5 tỷ tiền bảo đảm cho nguyên đơn vì việc yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là đúng quy định.
Đây là phần làm đúng nhất trong cả vụ án. Một bản án thắng mà bên phải thi hành không còn tài sản thì chỉ là tờ giấy. Chi phí thực của biện pháp này là chi phí cơ hội của khoản tiền bảo đảm bị phong toả — không phải khoản mất đi, nếu yêu cầu là có căn cứ.
Hồ sơ công nợ chuẩn: sáu thứ phải có
- Hợp đồng có điều khoản thanh toán rõ ràng: số ngày công nợ kể từ ngày giao hàng hoặc ngày xuất hoá đơn, lãi chậm trả và mức phạt vi phạm (không quá 8% theo Điều 301 Luật Thương mại).
- Chứng từ giao nhận có chữ ký người nhận, ghi rõ họ tên và chức danh. Phiếu xuất kho một bên tự lập không có giá trị chứng minh — đây chính là lý do nguyên đơn suýt mất cả khoản gốc.
- Biên bản đối chiếu công nợ định kỳ, ký ít nhất mỗi quý. Tờ giấy này vừa xác nhận số tiền, vừa làm thời hiệu khởi kiện bắt đầu lại.
- Trong biên bản đối chiếu phải có câu cam kết thời hạn thanh toán. Đây là bài học đắt nhất của vụ án: thiếu một dòng “cam kết thanh toán trước ngày…” khiến mất 1,85 tỷ tiền lãi và toàn bộ tiền phạt.
- Bảo lãnh ngân hàng hoặc bảo đảm bằng tài sản với khách hàng công nợ lớn — và phải ngừng giao hàng khi dư nợ vượt hạn mức bảo lãnh. Việc tiếp tục giao hàng vượt hạn mức đã được Toà ghi nhận là lỗi của chính công ty.
- Văn bản nhắc nợ có xác nhận đã gửi, lưu theo từng mốc. Đây là chứng cứ về thời điểm bên kia biết mình phải trả.
Trước khi nộp đơn khởi kiện đòi nợ
- Tính đủ và tính đúng ngay trong đơn. Yêu cầu vượt quá phạm vi đơn khởi kiện ban đầu, nếu gây bất lợi cho bị đơn, sẽ không được chấp nhận theo khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nâng lãi suất và số tháng tại phiên toà là cách chắc chắn để mất phần chênh lệch.
- Rà soát địa chỉ bị đơn. Trong vụ án này, bị đơn thay đổi nơi cư trú liên tục không thông báo. Toà vẫn xét xử vắng mặt được, căn cứ Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP và các Điều 173, 175, 177, 179, 180 Bộ luật Tố tụng dân sự về tống đạt. Nhưng người khởi kiện phải ghi đầy đủ, đúng địa chỉ nơi cư trú cuối cùng biết được.
- Tính tới khả năng vụ án bị tạm đình chỉ. Ở đây, có người nộp đơn yêu cầu tuyên bố bị đơn mất năng lực hành vi dân sự, khiến vụ án bị tạm đình chỉ gần một năm cho tới khi việc dân sự đó bị đình chỉ. Đây là chiến thuật kéo dài rất hay gặp.
- Cân nhắc biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay từ đầu, đặc biệt khi bên nợ có dấu hiệu tẩu tán tài sản hoặc thay đổi chỗ ở.
- Chuẩn bị cho việc miễn án phí của bị đơn. Bị đơn sinh năm 1939 được miễn án phí theo Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Người cao tuổi, người khuyết tật và một số nhóm khác thuộc diện được miễn — nghĩa là phần án phí của bên thua có thể không thu hồi được.
Cơ sở pháp lý
- Luật Thương mại 2005: Điều 50 (nghĩa vụ thanh toán của bên mua); Điều 300 và Điều 301 (phạt vi phạm, tối đa 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm); Điều 306 (quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán); Điều 319 (thời hiệu khởi kiện 02 năm).
- Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: khoản 1 Điều 244 (chỉ chấp nhận thay đổi, bổ sung yêu cầu trong phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu); Điều 173, 175, 177, 179, 180 (tống đạt); Điều 228 (xét xử vắng mặt); khoản 4 Điều 34 (thẩm quyền khi có yêu cầu xem xét quyết định cá biệt); khoản 2 Điều 308 (sửa bản án sơ thẩm).
- Bộ luật Dân sự 2015, khoản 2 Điều 468: lãi chậm thi hành án.
- Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, Điều 11: xác định lãi suất trung bình theo Điều 306 Luật Thương mại.
- Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP về trả lại đơn khởi kiện và xác định địa chỉ bị đơn; Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP về biện pháp khẩn cấp tạm thời; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án.
Hỏi đáp
Phiếu xuất kho không có chữ ký khách hàng có đòi nợ được không?
Rất khó. Toà đã bác các chứng từ xuất hàng do một bên tự lập vì không có chữ ký người nhận. Muốn dùng làm chứng cứ, mỗi lần giao hàng phải có chữ ký của người nhận kèm họ tên và chức danh, hoặc ít nhất là xác nhận qua kênh có dấu vết như email công ty, tin nhắn có định danh.
Biên bản đối chiếu công nợ cần có gì để tính được lãi?
Ngoài số tiền, phải có cam kết thời hạn thanh toán. Không có mốc đến hạn thì không xác định được thời điểm chậm trả, và không có chậm trả thì không có lãi, cũng không có căn cứ phạt vi phạm. Đây là điểm khiến nguyên đơn trong vụ án mất gần 2 tỷ.
Có được tăng yêu cầu tại phiên toà không?
Chỉ trong phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu. Khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự không cho phép thay đổi, bổ sung vượt quá phạm vi ban đầu khi điều đó gây bất lợi cho bị đơn. Vì vậy, số tháng tính lãi và mức lãi suất phải được nêu đúng ngay trong đơn.
Khách hàng bỏ đi khỏi địa chỉ đăng ký thì kiện được không?
Được. Khi người khởi kiện đã ghi đầy đủ, đúng địa chỉ nơi cư trú cuối cùng mà bị đơn thay đổi chỗ ở không thông báo nhằm trốn tránh nghĩa vụ, Toà vẫn thụ lý và có thể xét xử vắng mặt sau khi thực hiện đủ các hình thức tống đạt luật định.
Phong toả tài sản của con nợ cần điều kiện gì?
Phải có yêu cầu, có căn cứ cho thấy cần ngăn chặn việc tẩu tán tài sản, và người yêu cầu phải nộp tiền bảo đảm theo quyết định của Toà — trong vụ án này là 5 tỷ đồng. Nếu yêu cầu là đúng quy định, khoản bảo đảm được trả lại sau khi xét xử.
Thời hiệu khởi kiện đòi công nợ mua bán hàng hoá là bao lâu?
02 năm theo Điều 319 Luật Thương mại, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Nhưng thời hiệu bắt đầu lại khi bên nợ thừa nhận nghĩa vụ hoặc thanh toán một phần — đây chính là giá trị của việc đối chiếu công nợ định kỳ.
Đòi 5,7 tỷ mà chỉ được 3,78 tỷ thì ai chịu án phí?
Nguyên đơn chịu án phí trên phần yêu cầu không được chấp nhận — ở đây là 70.873.524 đồng trên phần 1.962.450.800 đồng bị bác. Đây là lý do nên yêu cầu đúng con số chứng minh được, thay vì yêu cầu cao rồi thương lượng.
Bên nợ là người cao tuổi thì có khác gì không?
Về nghĩa vụ trả nợ thì không khác. Nhưng về án phí, người từ đủ 60 tuổi trở lên và một số nhóm khác được miễn theo Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Ngoài ra cần lường trước khả năng phát sinh yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, có thể khiến vụ án bị tạm đình chỉ.
Đọc thêm
- Luật sư doanh nghiệp — danh mục việc, cách nhận việc và báo phí
- Hợp đồng song ngữ “phải cung cấp” hay “will support”: 30 tỷ nằm ở hai chữ
- Chuyển nhượng vốn góp 3.250 tỷ, kiện đòi 104,9 tỷ tiền lãi và thua trắng
- Lập phiếu thu khống để tăng cổ phần: Toà tuyên không công nhận 33.193 cổ phần
- Bán 90% cổ phần rồi đòi lại: vì sao không huỷ được nghị quyết Đại hội đồng cổ đông
Tranh chấp nội bộ công ty, chuyển nhượng vốn góp, hợp đồng thương mại hay công nợ — xem dịch vụ luật sư doanh nghiệp, hoặc gọi 0912266811 để nghe đánh giá sơ bộ hồ sơ và biết trước mức phí.
