VỀ CHÚNG TÔI

Unilaw là Công ty Luật chuyên về Giải quyết tranh chấp và Tư vấn pháp luật cho tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế.

TẠI SAO CHỌN UNILAW

Thương hiệu quốc tế, hiểu biết chuyên sâu về luật, phí dịch vụ hợp lý tại Việt Nam là những lý do tại sao khách hàng nên chọn chúng tôi.

THÀNH VIÊN CỦA MẠNG LƯỚI UNILAW

Thành viên của Unilaw - mạng lưới các hãng luật độc lập quốc tế đặt tại Châu Âu, được thành lập từ năm 1970. Có hàng trăm luật sư chuyên gia ở 30 quốc gia, tham gia vào tất cả các lĩnh vực hành nghề.

KINH NGHIỆM CHUYÊN SÂU

Thế mạnh của Unilaw là tranh tụng và tư vấn chuyên về luật hàng hải, luật bảo hiểm, luật đầu tư, luật doanh nghiệp, luật kinh doanh bất động sản, luật hợp đồng, luật dân sự và luật hình sự.

MỨC PHÍ PHÙ HỢP TẠI VIỆT NAM

Unilaw cung cấp dịch vụ luật sư chất lượng quốc tế với phí phù hợp với nhu cầu và vụ việc của khách hàng tại Việt Nam.

SỰ TIN CẬY

Hơn 800 khách hàng từ 11 quốc gia trên thế giới đã tin tưởng ủy quyền cho chúng tôi làm đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong kinh doanh của họ tại Việt Nam.

LUẬT SƯ CỦA UNILAW

Các luật sư của Unilaw tốt nghiệp từ các trường đại học luật ở nước ngoài như Mỹ, Đức và Pháp. Họ cũng có hơn 15 năm kinh nghiệm làm việc cho các tổ chức nước ngoài.

TÌM HIỂU THÊM

CÁC VỤ VIỆC ĐIỂN HÌNH

Chúng tôi luôn luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng bằng cách lắng nghe tất cả các vấn đề quan trọng đối với họ.

HƯỚNG DẪN KHÁCH HÀNG

Chúng tôi gợi ý bạn có thể tìm trong mục câu hỏi thường gặp câu trả lời cho những câu hỏi chung. Nếu khách hàng có câu hỏi khác mà chưa được liệt kê trong mục này, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi.

 

ĐẶT CÂU HỎI

Chúng tôi sẽ:

  • Bảo vệ quyền và lợi ích của khách hàng
  • Thảo luận với khách hàng về mục đích và giải pháp tốt nhất đạt được được mục đích đó
  • Hành động nhanh chóng, kịp thời theo chỉ dẫn của khách hàng
  • Cung cấp cho khách hàng ai sẽ thực hiện công việc, tiến độ công việc
  • Bảo mật thông tin cá nhân của khách hàng một cách thích hợp
  • Công bằng, tôn trọng và không phân biệt đối xử
  • Cung cấp cho khách hàng tư vấn và thông tin rõ ràng
  • Thông báo trước phí dịch vụ và tính phí hợp lý
  • Cho khách hàng biết làm thế nào để khiếu nại dịch vụ và giải quyết mọi khiếu nại một cách kịp thời, công bằng

Thực hiện các nghĩa vụ khác quy định trong Luật luật sư và các văn bản hướng dẫn liên quan.

Tên và kinh nghiệm của luật sư chịu trách nhiệm thực hiện vụ việc sẽ được thông báo cho khách hàng trong đề xuất hoặc hợp đồng dịch vụ pháp lý.

Chúng tôi sẽ bảo mật thông tin vụ việc và cá nhân của khách hàng và sẽ không bộc lộ bất kỳ thông tin gì do chúng tôi nắm giữ, trừ trường hợp luật quy định hoặc do yêu cầu thực hiện dịch vụ hoặc được sự đồng ý của khách hàng.

Chúng tôi sẽ cung cấp mức phí cố định theo phạm vi dịch vụ. Do tính chất công việc mà phải tính toán phí dịch vụ theo giờ, chúng tôi sẽ thông báo trước mức phí theo giờ cho khách hàng tương ứng với khối lượng công việc.

Nếu khách hàng có bất kỳ mối quan tâm hoặc khiếu nại nào mà không muốn nêu ra với luật sư đang thực hiện công việc của khách hàng, vui lòng liên hệ với chúng tôi (legal@unilaw.vn). Chúng tôi cam kết giải quyết mọi vấn đề một cách nhanh nhất.

BÌNH LUẬN

Mục này bao gồm những bài viết, bài bình luận hoặc mẫu văn bản pháp lý. Chúng không phải là tư vấn pháp lý của luật sư. Vui lòng liên hệ với chúng tôi nếu có bất kỳ vụ việc nào cần tư vấn.

BẢN ÁN 40/2018/HS-ST NGÀY 19/07/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 19/7/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ea Kar, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2018/HS-ST ngày 15/6/2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2018/QĐXXST-HS ngày 05/7/2018, đối với các bị cáo:

Đọc tiếp
07 Tháng Mười Hai 2021

BẢN ÁN 14/2019/HS-ST NGÀY 03/05/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 14/2019/HS-ST NGÀY 03/05/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 03 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2019 đối với:

Bị cáo Hà Văn D, sinh năm 1999 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT: Đội 4 cũ (nay là thôn Q2), xã T, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn A và bà Lê Thị L; chưa có vợ, con; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2019 – Có mặt.

– Bị hại: Anh Trần Văn H, sinh năm 1981;

Địa chỉ: Thôn T, xã Q, thị xã G, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

– Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Anh Trần Văn H, sinh năm 1979 – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 23 giờ ngày 12/01/2019, Hà Văn D điều khiển xe mô tô BKS 48E1-17381 đi từ thôn 7, xã T, huyện S, tỉnh Đắk Nông đến địa bàn thị xã G để tìm quán 1 chơi Game. Khi đi đến thôn T, xã Q, thị xã G trên đường Quốc lộ 14, D phát hiện trong sân Đại Lý thu mua nông sản của gia đình anh Trần Văn H có đậy bạt che nhiều bao bì, D nghi đó là cà phê nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Sau khi quan sát thấy trong nhà và ngoài sân không có người trông coi, D trèo qua tường rào vào trong sân lấy trộm 01 bao cà phê nhân ném qua tường rào xuống bãi đất trống bên cạnh nhà anh H rồi trèo qua tường rào đi đến vị trí bao cà phê thì thấy anh H đang đứng ở cửa nhà nhìn ra, sợ bị phát hiện nên D giả vờ đi vệ sinh và điều khiển xe mô tô bỏ đi. Khoảng 10 phút sau D quay lại lấy bao cà phê nhân bỏ lên xe chở đi tiêu thụ thì bị anh H và anh Trần Văn H phát hiện và bắt giữ cùng vật chứng.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật:

– 01 xe mô tô nhãn hiệu LIFAN, BKS 48E1-17381 màu nâu, số máy VLF1P50FMG370005385, số khung RL8DCG1DL71005385 (xe D mượn của anh trai Hà Văn T).

– 01 bao cà phê nhân khô, trọng lượng 60 kg (đã trừ bao bì), đựng trong bao xác rắn màu xanh.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 06/KL-HĐĐG, ngày 15/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thị xã Gia Nghĩa Kết luận: 60 kg cà phê nhân trị giá là 2.010.000 đồng.

Xử lý vật chứng:

Ngày 31/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 151, trả lại 60 kg cà phê nhân khô đựng trong bao xác rắn màu xanh (Có đặc điểm như trong biên bản tạm giữ) cho anh Trần Văn H là chủ sở hữu hợp pháp. Sau khi nhận lại tài sản, anh H không có yêu cầu gì thêm.

Đi với chiếc xe mô tô BKS 48E1-17381. Quá trình điều tra xác minh chiếc xe này là tài sản của anh Dương Văn D (sinh năm: 1997), trú tại thôn 8, xã T, huyện M, tỉnh Đắk Nông. Trước đó Q cho một người tên Đ (không rõ nhân thân, lai lịch) ở sát phòng trọ của Q tại xã N, thị xã U, tỉnh Bình Dương mượn nhưng không trả mà đem chiếc xe này đi bán cho Hà Văn T (sinh năm: 1994), là anh Trai của D ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 28/02/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa đã chuyển chiếc xe mô tô BKS 48E1-17381 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương để xử lý theo thẩm quyền.

Tại Bản cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 25 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gia Nghĩa đã truy tố bị cáo Hà Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bi cao đã khai nhận toàn bộ hanh vi của mình và thừa nhận Viên kiêm sat truy tố bị cáovề tội danh, khoản và điều luật áp dụng như Cáo trạng là đúng, không oan.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Văn D từ 04 tháng đến 06 tháng tù.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Do bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Vic xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Chp nhận ngày 31/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 151, trả lại 60 kg cà phê nhân khô đựng trong bao xác rắn màu xanh (có đặc điểm như trong biên bản tạm giữ) cho anh Trần Văn H là chủ sở hữu hợp pháp.

Ti phiên tòa bị cáo không trình bày lời bào chữa, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gia Nghĩa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng , người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Các chứng cứ buộc tội và quan điểm đề nghị xử lý của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khong 23 giờ ngày 12/01/2019, tại Đại Lý thu mua nông sản của gia đình anh Trần Văn H thuộc thôn T, xã Q, thị xã G, tỉnh Đắk Nông, Hà Văn D đã có hình vi lén lút chiếm đoạt 01 bao cà phê nhân khô, giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 2.010.000đ (hai triệu không trăm mười nghìn đồng).

Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo nhận thức rằng quyền sở hữu tài sản của người khác luôn được pháp luật bảo vệ, bất kỳ một hành vi chiếm đoạt trái pháp luật nào cũng đều bị xử lý nghiêm theo quy định, vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân cộng với ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt phù hợp đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Tuy nhiên, bị cáo phạm tội chưa gây thiệt hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tài sản chiếm đoạt đã được trả lại cho bị hại. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo D, để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian thì mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt thể hiện tính chất nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

[5] Tại phiên tòa, qua phần tranh luận, xét quan điểm về đường lối xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông là có căn cứ nên cần chấp nhận.

[6] Việc bồi thường thiệt hại: Do bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[7] Việc xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Chp nhận ngày 31/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 151, trả lại 60 kg cà phê nhân khô đựng trong bao xác rắn màu xanh (có đặc điểm như trong biên bản tạm giữ) cho anh Trần Văn H là chủ sở hữu hợp pháp.

Đi với chiếc xe mô tô BKS 48E1-17381, quá trình điều tra xác minh chiếc xe này là tài sản của anh Dương Văn Q, sinh năm 1997, trú tại thôn 8, xã R, huyện M, tỉnh Đắk Nông. Trước đó Q cho một người tên Đ (không rõ nhân thân, lai lịch) ở sát phòng trọ của Q tại xã N, thị xã U, tỉnh Bình Dương mượn nhưng không trả mà đem chiếc xe này đi bán cho Hà Văn T, sinh năm 1994 là anh trai của D ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 28/02/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa đã chuyển chiếc xe mô tô BKS 48E1-17381 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương để xử lý theo thẩm quyền, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[8] Về án phí: Bị cáo Hà Văn D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hà Văn D 04 (bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 13/01/2019).

2. Việc xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Chp nhận ngày 31/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 151, trả lại 60 kg cà phê nhân khô đựng trong bao xác rắn màu xanh (có đặc điểm như trong biên bản tạm giữ) cho anh Trần Văn H là chủ sở hữu hợp pháp.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hà Văn D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Đọc tiếp
07 Tháng Mười Hai 2021
BẢN ÁN 134/2020/HNGĐ-ST NGÀY 29/06/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ TRANH CHẤP NUÔI CON

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 134/2020/HNGĐ-ST NGÀY 29/06/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 29 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 563/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2020 về tranh chấp ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2020/QĐXX-ST ngày 12/6/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ P, sinh năm 1978 (có mặt);

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Anh V, sinh năm 1985 (có mặt);

Cùng địa chỉ: Ấp Mới 2, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời trình bày tại phiên tòa của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ P thể hiện:

Bà P và ông Nguyễn Anh V có tìm hiểu nhau, sau đó tiến tới hôn nhân vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh vào ngày 06/9/2007. Ông bà chung sống được 13 năm. Đến năm 2014, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông V ham chơi cá độ, đá gà làm bao nhiêu tiền là dùng để trả nợ hết. Ông V kêu bà đi mượn tiền, bà phải về nhà mẹ ruột để mượn tiền, mượn cả tiền dành dụm của mẹ ruột. Nếu bà không mượn tiền thì ông V đánh vào hành hung, sỉ nhục, xúc phạm danh dự của bà. Ông V đuổi bà đi từ đầu tháng 6/2020 đến nay. Thậm chí, ông V đánh luôn cháu M là con chung của ông bà. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng đã rạn nứt, không còn khả năng hàn gắn, nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Anh V. Về con chung: Quá trình chung sống, ông bà có 02 con chung tên là Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 18/4/2008, và Nguyễn Anh Gia B, sinh ngày 28/04/2016. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung. Không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ông bà tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà không có chứng cứ gì bổ sung cho Tòa án nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật Bị đơn ông Nguyễn Anh V trình bày trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa:

Ông thống nhất lời trình bày của bà P về thời gian chung sống, việc đăng ký kết hôn. Nhưng nguyên nhân mâu thuẫn do năm 2014 bà P dọn nhà đi cùng người đàn ông khác bị ông bắt gặp và dẫn về, lúc đó ông bà có cháu My. Sau đó, bà P lấy một chiếc xe tay ga hiện có đi cùng với người đàn ông đó tròn 01 năm. Ông nghĩ nếu bỏ vợ thì con cái sẽ khổ nên ông đưa vợ về tiếp tục chung sống và sinh thêm cháu B. Gần đây do mâu thuẫn tiền bạc ông có mượn vợ tiền để trả tiền công thợ, do ông đang làm thi công công trình thì vợ ông cho rằng của ai làm nấy lo nên ông tức giận mà đánh bà P một tát tay, con gái lớn của ông bà là bé My nhảy vào xô ra nên trúng bé. Ông biết việc làm của ông là sai vì ông quá nóng giận, ông đã ăn năn. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bà P yêu cầu ly hôn ông không đồng ý vì muốn hàn gắn để nuôi dạy con chung và ông còn rất thương vợ, thương con nhưng tại phiên tòa hôm nay ông đồng ý ly hôn.

Về nuôi con chung: Ông và bà P có 02 con chung như bà P trình bày, khi ly hôn ông đồng ý để bà P tiếp tục nuôi dưỡng cháu M và ông yêu cầu được nuôi dưỡng cháu B. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ông bà tự thỏa thuận tài sản chung, nên ông không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông không có chứng cứ gì nộp cho Tòa án đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Mỹ P nộp đơn khởi kiện ly hôn và tranh chấp về nuôi con với ông Nguyễn Anh V có địa chỉ cư trú tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An nên căn cứ vào Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp “ly hôn và tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

[3] Về nội dung: Quan hệ hôn nhân: Bà P và ông V tự nguyện tiến đến hôn nhân, chung sống với nhau từ năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh vào ngày 06/9/2007 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Bà P yêu cầu ly hôn vì cho rằng ông V ham chơi cá độ, đá gà làm bao nhiêu tiền là dùng để trả nợ hết; ngoài ra còn đánh đập bà và con gái. Bị đơn ông V thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn như lời bà P trình bày. Tại phiên tòa, ông V đồng ý ly hôn.

Xét thấy, bà P và ông V đều thừa nhận vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, hai bên không còn sống chung, không còn quan tâm lo lắng cho nhau. Mẫu thuẫn giữa hai bên không hòa giải được. Tại phiên tòa, bà P vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn, ông V đồng ý ly hôn nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà P.

Về con chung: Bà P và ông V có 02 con chung tên là Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 18/4/2008, và Nguyễn Anh Gia B, sinh ngày 28/4/2016. Khi ly hôn bà P yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông V cấp dưỡng.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông V yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Anh Gia B, sinh ngày 28/4/2016, không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, cháu Nguyễn Anh Gia B, hiện chưa được 04 tuổi, từ lúc sinh ra đến nay cháu sống cùng mẹ, được mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục phát triển khỏe mạnh, toàn diện; đồng thời cháu còn có bà ngoại sống gần nhà phụ giúp chăm sóc cháu, bà P làm công nhân tại Công ty Long Vĩ Việt Nam, có thu nhập ổn định, thời gian làm việc giờ hành chính nên đảm bảo về thời gian nuôi dưỡng, chăm sóc con. Ông V yêu cầu được nuôi dưỡng con, có cung cấp cho Tòa án giấy tờ thể hiện ông V đang làm việc theo Hợp đồng giao khoán, nơi làm việc ngoài công trường và do đặc thù của công việc sẽ làm việc tại nhiều nơi khác nhau và hằng ngày ông V đi làm làm rất sớm từ 06 giờ sáng. Việc này sẽ không đảm bảo thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng con. Ông V cũng không chứng minh được mức thu nhập hằng tháng của mình. Do đó, căn cứ vào điều kiện của các bên; quyền lợi về mọi mặt và lợi ích của con, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Nguyễn Anh Gia B cho bà P tiếp tục nuôi dưỡng. Đối với cháu My, sinh năm 2008; đã trên 07 tuổi, cháu có nguyện vọng được sống với mẹ và ông V cũng đồng ý để bà P được tiếp tục nuôi dưỡng cháu My nên Hội đồng xét xử cũng quyết định giao cháu Nguyễn Thị Trà M cho bà P được quyền nuôi nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Các bên tự thỏa thuận tài sản chung, nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Mỹ P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điều 18, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị Mỹ P.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ P được ly hôn với ông Nguyễn Anh V.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ P được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 18/4/2008, và Nguyễn Anh Gia B, sinh ngày 28/4/2016.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu.

Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Khi cần thiết các bên có thể thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận Về nợ chung: Không có.

2. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị Mỹ P phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà P đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005496 ngày 09/6/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa. Bà P đã nộp xong.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Đọc tiếp
07 Tháng Mười Hai 2021
error: Content is protected !!