VỀ CHÚNG TÔI

Unilaw là Công ty Luật chuyên về Giải quyết tranh chấp và Tư vấn pháp luật cho tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế.

TẠI SAO CHỌN UNILAW

Thương hiệu quốc tế, hiểu biết chuyên sâu về luật, phí dịch vụ hợp lý tại Việt Nam là những lý do tại sao khách hàng nên chọn chúng tôi.

THÀNH VIÊN CỦA MẠNG LƯỚI UNILAW

Thành viên của Unilaw - mạng lưới các hãng luật độc lập quốc tế đặt tại Châu Âu, được thành lập từ năm 1970. Có hàng trăm luật sư chuyên gia ở 30 quốc gia, tham gia vào tất cả các lĩnh vực hành nghề.

KINH NGHIỆM CHUYÊN SÂU

Thế mạnh của Unilaw là tranh tụng và tư vấn chuyên về luật hàng hải, luật bảo hiểm, luật đầu tư, luật doanh nghiệp, luật kinh doanh bất động sản, luật hợp đồng, luật dân sự và luật hình sự.

MỨC PHÍ PHÙ HỢP TẠI VIỆT NAM

Unilaw cung cấp dịch vụ luật sư chất lượng quốc tế với phí phù hợp với nhu cầu và vụ việc của khách hàng tại Việt Nam.

SỰ TIN CẬY

Hơn 800 khách hàng từ 11 quốc gia trên thế giới đã tin tưởng ủy quyền cho chúng tôi làm đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong kinh doanh của họ tại Việt Nam.

LUẬT SƯ CỦA UNILAW

Các luật sư của Unilaw tốt nghiệp từ các trường đại học luật ở nước ngoài như Mỹ, Đức và Pháp. Họ cũng có hơn 15 năm kinh nghiệm làm việc cho các tổ chức nước ngoài.

TÌM HIỂU THÊM

CÁC VỤ VIỆC ĐIỂN HÌNH

Chúng tôi luôn luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng bằng cách lắng nghe tất cả các vấn đề quan trọng đối với họ.

HƯỚNG DẪN KHÁCH HÀNG

Chúng tôi gợi ý bạn có thể tìm trong mục câu hỏi thường gặp câu trả lời cho những câu hỏi chung. Nếu khách hàng có câu hỏi khác mà chưa được liệt kê trong mục này, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi.

 

ĐẶT CÂU HỎI

Chúng tôi sẽ:

  • Bảo vệ quyền và lợi ích của khách hàng
  • Thảo luận với khách hàng về mục đích và giải pháp tốt nhất đạt được được mục đích đó
  • Hành động nhanh chóng, kịp thời theo chỉ dẫn của khách hàng
  • Cung cấp cho khách hàng ai sẽ thực hiện công việc, tiến độ công việc
  • Bảo mật thông tin cá nhân của khách hàng một cách thích hợp
  • Công bằng, tôn trọng và không phân biệt đối xử
  • Cung cấp cho khách hàng tư vấn và thông tin rõ ràng
  • Thông báo trước phí dịch vụ và tính phí hợp lý
  • Cho khách hàng biết làm thế nào để khiếu nại dịch vụ và giải quyết mọi khiếu nại một cách kịp thời, công bằng

Thực hiện các nghĩa vụ khác quy định trong Luật luật sư và các văn bản hướng dẫn liên quan.

Tên và kinh nghiệm của luật sư chịu trách nhiệm thực hiện vụ việc sẽ được thông báo cho khách hàng trong đề xuất hoặc hợp đồng dịch vụ pháp lý.

Chúng tôi sẽ bảo mật thông tin vụ việc và cá nhân của khách hàng và sẽ không bộc lộ bất kỳ thông tin gì do chúng tôi nắm giữ, trừ trường hợp luật quy định hoặc do yêu cầu thực hiện dịch vụ hoặc được sự đồng ý của khách hàng.

Chúng tôi sẽ cung cấp mức phí cố định theo phạm vi dịch vụ. Do tính chất công việc mà phải tính toán phí dịch vụ theo giờ, chúng tôi sẽ thông báo trước mức phí theo giờ cho khách hàng tương ứng với khối lượng công việc.

Nếu khách hàng có bất kỳ mối quan tâm hoặc khiếu nại nào mà không muốn nêu ra với luật sư đang thực hiện công việc của khách hàng, vui lòng liên hệ với chúng tôi (legal@unilaw.vn). Chúng tôi cam kết giải quyết mọi vấn đề một cách nhanh nhất.

BÌNH LUẬN

Mục này bao gồm những bài viết, bài bình luận hoặc mẫu văn bản pháp lý. Chúng không phải là tư vấn pháp lý của luật sư. Vui lòng liên hệ với chúng tôi nếu có bất kỳ vụ việc nào cần tư vấn.

Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại theo pháp luật Việt Nam trong bối cảnh đại dịch Covid-19

Bài viết đặt ra những vẫn đề lý luận cơ bản về tranh chấp hợp đồng thương mại, chỉ ra các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại theo luật định và đánh giá ưu, nhược điểm của từng phương thức. Trên cơ sở đó cũng như căn cứ tình hình thực tế …

Đọc tiếp
09 Tháng Mười Hai 2022

Tranh chấp giữa các cổ đông trong công ty cổ phần

Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã tiếp tục tạo cơ chế thông thoáng cho hoạt động huy động vốn, chuyển nhượng cổ phần của các cổ đông, bảo đảm quyền cho các cổ đông nhỏ lẻ và tăng cường sức khỏe tài chính cho doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng. Tuy nhiên, cơ chế thông thoáng đi liền với rủi ro và tranh chấp, dẫn đến nhu cầu giải quyết tranh chấp ngày càng cao. Bài viết phân loại các dạng tranh chấp trong công ty cổ phần, Tranh chấp giữa các cổ đông trong công ty cổ phần.

1. Đặt vấn đề

          Công ty cổ phần (CTCP) xuất hiện đầu tiên trên thế giới là Công ty Đông Ấn (East India Company) của Anh (1600 – 1874). Công ty được thành lập ngày 31/10/1860 bởi một nhóm có 218 người, và được cấp phép độc quyền kinh doanh trong vòng 15 năm ở vùng Đông Ấn, các quốc gia và hải cảng ở Châu Á, Châu Phi. Ngày 01/6/1874, Công ty bị giải thể khi giấy phép lần sau cùng không được gia hạn. Sau đó thấy rõ sự phù hợp và cần thiết của loại hình này, một số nước như: Mỹ, Thụy Sỹ và Châu Âu đã phát triển và hoàn thiện quy định về loại hình doanh nghiệp này.

Ở Việt Nam, năm 1931, trong “Bộ Dân luật thi hành tại các tòa án Bắc Kỳ” đã ghi nhận loại hình CTCP với cái tên “hội vô danh”. Vào thời kỳ Pháp thuộc, Bộ luật Thương mại Pháp ra đời năm 1807 có quy định về hình thức CTCP. Năm 1972, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành Bộ luật Thương mại, trong đó CTCP được gọi là hội nặc danh với đặc điểm “gồm có các hội viên mệnh danh cổ đông, chỉ chịu trách nhiệm trong giới hạn phần hùn của mình dưới hình thức cổ phần và chỉ được thành lập nếu có số hội viên từ 7 người trở lên. Năm 1990, Luật Công ty được ban hành, hình thức CTCP mới chính thức được quy định cụ thể.

Trải qua nhiền lần sửa đổi và xây dựng luật mới, hiện nay Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã quy định khá hoàn chỉnh về CTCP. Sự cải cách và thông thoáng trong quy định về CTCP đã giúp cho công ty chủ động trong hoạt động huy động vốn, nâng cao sức đề kháng trước nền kinh tế bị khủng hoảng bởi dịch Covid toàn cầu cũng như tăng cường sức khỏe tài chính cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, hệ lụy của cơ chế mở là phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp trong CTCP ngày càng gia tăng và nhu cầu về giải quyết tranh chấp ngày càng nhiều. Thực trạng này đang đòi hỏi Nhà nước cần phải có quy định đồng bộ về quy chế, cơ quan giải quyết tranh chấp để thỏa mãn nhu cầu của nền kinh tế thị trường.

2. Khái niệm, nhận diện các loại tranh chấp giữa các cổ đông trong CTCP

2.1. Một số khái niệm cơ bản

2.1.1. Cổ đông

Theo Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020: “Cổ đông là cá nhân, tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của CTCP”, về bản chất, cổ đông là những chủ đầu tư đóng góp tài sản để sở hữu ít nhất một cổ phần của CTCP. Việc tham gia vào quá trình kinh doanh hoạt động sản xuất nhằm thu lợi dưới sự giám sát và bảo hộ bởi hệ thống pháp luật hiện hành. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp (Điều 111 Luật Doanh nghiệp năm 2020). Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác sau 3 năm kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và Điều lệ công ty không có quy định khác nhằm hạn chế quyền chuyển nhượng cổ phần (Điều 127 Luật Doanh nghiệp). CTCP có quyền phát hành cổ phần, cổ phiếu và các loại chứng khoán khác của công ty (Điều 111 Luật Doanh nghiệp).

2.1.2. Quyền của cổ đông phổ thông trong CTCP

Ngoài những quyền lợi cơ bản, với những cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty có quyền sau: Xem xét tra cứu trích lục sổ biên bản và Nghị quyết, Quyết định của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm, báo cáo của Ban kiểm soát, hợp đồng, giao dịch phải thông qua Hội đồng quản trị và tài liệu khác, trừ tài liệu liên quan đến bí mật thương mại, bí mật kinh doanh của công ty; Yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông trong trường hợp Hội đồng quản trị vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao; Yêu cầu ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết (yêu cầu bằng văn bản); Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên, hoặc tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty có quyền đề cử người của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát.

2.1.3. Nghĩa vụ của cổ đông

Cổ đông có nghĩa vụ “thanh toán đủ và đúng thời hạn số cổ phần cam kết mua”. Giống như giao dịch mua bán thông thường, cổ đông có trách nhiệm thanh toán đủ và đúng thời hạn số cổ phần đăng ký mua. Cổ đông được cập nhật thông tin trong Sổ đăng ký cổ đông, đồng thời được cấp giấy chứng nhận cổ phần khi cổ đông đã hoàn thành thanh toán. Trong trường hợp chuyển nhượng cổ phần, cá nhân, tổ chức nhận cổ phần trong các trường hợp quy định tại Điều 127 Luật Doanh nghiệp năm 2020 chỉ trở thành cổ đông công ty từ thời điểm các thông tin của họ quy định tại khoản 2 Điều 122 Luật Doanh nghiệp. Thông tin quy định Sổ đăng ký cổ đông được ghi đầy đủ vào Sổ đăng ký cổ đông. Như vậy, nghĩa vụ thanh toán của cổ đông, sẽ chứng nhận tư cách và quyền hạn của họ trong CTCP.

Cổ đông không được rút vốn đã góp bằng cổ phần phổ thông ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được công ty hoặc người khác mua lại cổ phần. Trường hợp có cổ đông rút một phần hoặc toàn bộ vốn cổ phần đã góp trái với quy định tại khoản này thì cổ đông đó và người có lợi ích liên quan trong công ty phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị cổ phần đã bị rút và các thiệt hại xảy raTuân thủ Điều lệ công ty, quy chế quản lý nội bộ của công ty và chấp hành nghị quyết, quyết định của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trịBảo mật các thông tin được công ty cung cấp theo quy định tại Điều lệ công ty và pháp luật; chỉ sử dụng thông tin được cung cấp để thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; nghiêm cấm phát tán hoặc sao, gửi thông tin được công ty cung cấp cho tổ chức, cá nhân khác.

2.2. Nhận diện các loại tranh chấp giữa các cổ đông trong CTCP

“Tranh chấp giữa các cổ đông” là những mâu thuẫn, xung đột về quyền, lợi ích và nghĩa vụ giữa các cổ đông, đội ngũ quản lý, vận hành hoạt động kinh doanh trong CTCP. Như đã nói ở phần khái niệm cổ đông, các cổ đông cùng nhau góp vốn để cùng đem lại lợi ích kinh tế, việc xảy ra các tranh chấp giữa các cổ đông là điều không ai mong muốn. Có thể chia tranh chấp giữa các cổ đông thành 2 loại:

Thứ nhất, tranh chấp quyền lợi, nghĩa vụ giữa các cổ đông với nhau. Tranh chấp về tư cách cổ đông. Có thể họ là cổ đông sáng lập nhưng lại không đóng góp tiền cho một cổ phần nào trong số cổ phần đã đăng ký hoặc góp không đủ số cổ phần đã đăng ký nhưng yêu cầu quyền và lợi ích như của một cổ đông đã góp đủ vốn. Ngoài ra, tranh chấp về phương thức góp vốn như định giá tài sản cao hơn thực tế, không chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn, không thỏa thuận trước với nhau về việc góp vốn và giá trị vốn góp bằng tài sản, không quy định cụ thể về thời điểm hoàn tất việc chuyển nhượng cổ phần, hoặc tranh chấp về việc cổ đông nào cũng muốn tham gia điều hành công ty…

Thứ hai, tranh chấp giữa cổ đông và các thành viên trong Hội đồng quản trị, hoặc những người giữ chức vụ được trực tiếp quản lý, tham gia vận hành doanh nghiệp. Các nhóm cổ đông nắm cổ phần chi phối (như HĐQT) thường muốn “người của mình” làm giám đốc; hoặc cổ đông lớn là chủ tịch và đồng thời muốn làm giám đốc điều hành nhằm mục đích không loại họ ra khỏi HĐQT, không bãi miễn khỏi chức danh chủ tịch HĐQT, hoặc tranh chấp phát sinh từ các quyết định của Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ). Sự tranh chấp về tư cách cổ đông dẫn tới hệ quả là tất cả các quyết định cỉa ĐHĐCĐ sẽ trở thành đối tượng của tranh chấp vì lẽ: Quyết định không công bằng; Quyết định không hợp pháp của ĐHĐCĐ dẫn đến quyền lợi của các cổ đông khác không được như mong đợi…

3. Biện pháp giải quyết tranh chấp giữa các cổ đông trong CTCP

 3.1. Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng

Một trong những “quyền năng” được quy định thể hiện quyền của cổ đông hoặc nhóm cổ đông chính là việc tổ chức các cuộc họp để thương lượng. Cách thức tiến hành cuộc họp, điều kiện tiến hành họp đã được quy định cụ thể tại Điều 139 Luật doanh nghiệp 2015: “Đại hội đồng cổ đông họp thường niên mỗi năm một lần. Ngoài cuộc hợp thường niên, Đại hội đồng cổ đông có thể họp bất thường. Cuộc họp ĐHĐCĐ bất thường được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện trên 50% tổng số phiếu biểu quyết; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định. Tuy nhiên ở mỗi công ty, các cổ đông có thể thỏa thuận về tỷ lệ cổ phần cổ đông có quyền quyết định tham gia dự họp, tham gia biểu quyết, tiến hành họp qua các lần,… ngoại trừ cuộc họp Đại hội đồng cổ đông lần thứ ba được tiến hành không phụ thuộc vào tổng số phiếu biểu quyết của các cổ đông dự họp (Điều 145 Luật Doanh nghiệp 2020). Tranh chấp giữa các cổ đông nếu phát sinh trong quá trình kinh doanh thì các bên sẽ giải quyết thông qua việc tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông.

3.2. Giải quyết tranh chấp bằng phương thức hòa giải

Các bên có quyền lựa chọn phương thức hòa giải tại Trung tâm hòa giải thương mại về tranh chấp như một phương án phát sinh sau khi xảy ra tranh chấp. “Văn bản về kết quả hòa giải thành được xem xét công nhận theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự” (Điều 16, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại). Việc này giúp tranh chấp được thực hiện nhanh chóng, và đối với kết quả hòa giải được Tòa án công nhận theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên trên thực tế, các tranh chấp xảy ra thường mang tính cấp bách, ảnh hưởng đến kinh tế của từng cổ đông và phương án kinh doanh của công ty, việc hòa giải chưa hẳn đã đủ tính cưỡng chế răn đe các bên thực hiện kết quả như một số phương án giải quyết tranh chấp khác.

3.3. Giải quyết tranh chấp bằng việc khởi kiện tại Tòa án nhân dân

Theo Điều 37 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Toà án có thẩm quyền giải quyết đối với “tranh chấp giữa người chưa là thành viên của công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần bốn góp với công ty, thành viên công ty”, “tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong CTCP, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty”. Lựa chọn phương pháp giải quyết tranh chấp bằng khởi kiện tại Tòa án nhân dân được nhiều cổ đông sử dụng. CTCP thực chất là công ty đối vốn nên các tranh chấp phát sinh từ bên ngoài hoặc nội bộ công ty sẽ khó có thể đạt được thỏa thuận hợp tình hợp lý. Chẳng hạn, một công ty đại chúng, chủ tịch hội đồng quản trị kiêm người đại diện theo pháp luật ký kết đầu tư những khoản lớn hơn quy định, vượt quyền hạn của họ dẫn đến thiệt hại cho công ty. Trường hợp này, bên cạnh việc triệu tập các cuộc họp đại hội đồng cổ đông bất thường, cổ đông còn có quyền khởi kiện đến Tòa án để yêu cầu bồi thường cũng như tuyên các giao dịch vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu một phần. Điều mà việc thương lượng không thể giải quyết triệt để được.

3.4. Giải quyết tranh chấp thông qua Trung tâm trọng tài

Phương án giải quyết bằng việc khởi kiện tại Trung tâm trọng tài có thể được các bên áp dụng trong trường hợp có thỏa thuận. Thời hiệu khởi kiện theo thủ tục trọng tài là 2 năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm (Điều 33, Luật Trọng tài thương mại 2010). Hiện nay, lựa chọn giải quyết trọng tài cũng đã trở nên phổ biến trong việc giải quyết các tranh chấp bởi ưu điểm của phương pháp này: Quyết định của Hội đồng trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Việc giải quyết bằng trọng tài sẽ mất ít thời gian hơn so với giải quyết tranh chấp bằng con đường tố tụng tại Tòa án nhân dân.

4. Nguyên nhân dẫn đến tranh chấp quyền và nghĩa vụ giữa các cổ đông trong CTCP

4.1. Xuất phát từ rủi ro mua bán giao dịch chuyển nhượng tự do

CTCP là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn. Vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau, được gọi là cổ phần. Sau 3 năm kể từ ngày thành lập doanh nghiệp, cổ đông tự do chuyển nhượng cổ phần. Do đó, số lượng cổ đông trong công ty là không giới hạn. Một quá trình pháp lý chuẩn được quy định như sau:

Cổ đông sáng lập muốn chuyển nhượng cổ phần trong vòng 3 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được tự do chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cho người không phải cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Trường hợp này cổ đông sáng lập dự định chuyển nhượng cổ phần phổ thông thì không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng cổ phần đó (Điều 120 Luật doanh nghiệp 2020)Nghĩa là, các cổ đông sáng lập họp và thông qua việc chuyển nhượng cổ phần thì mới được coi là hợp lệ.

Ngoài trường hợp trên, cổ đông được tự do chuyển nhượng. Sau khi ký hết hợp đồng chuyển nhượng, cổ đông được cấp cổ phiếu, được ghi nhận trong sổ đăng ký cổ đông. Việc thay đổi cổ đông trong sổ đăng ký cổ đông phải là trách nhiệm của công ty dưới yêu cầu của cổ đông mới. Như vậy, cổ đông mới cần biết được quyền yêu cầu của mình để thực hiện hoàn thành bước được trở thành cổ đông chính thức của CTCP.

Một trong những lưu ý quan trọng trong quá trình chuyển nhượng cổ phần trong CTCP chính là hình thức của hợp đồng. Việc thực hiện chuyển nhượng được thực hiện bằng hợp đồng hoặc giao dịch trên thị trường chứng khoán. Trường hợp chuyển nhượng bằng hợp đồng, thì giấy tờ chuyển nhượng phải được bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng hoặc người đại diện theo ủy quyền ký (Điều 127 Luật Doanh nghiệp). Khi có tranh chấp liên quan đến việc xác nhận tư cách thành viên hợp đồng chuyển nhượng cổ phần trở thành một trong những chứng cứ quan trọng bên cạnh những giấy tờ cần thiết nêu trên.

4.2. Xuất phát từ báo cáo tài chính không minh bạch

Điều này cũng xuất phát từ một số cá nhân được giao trọng trách nhưng không tuân thủ quy định. Quyền trong tay càng lớn thì lòng tham càng lớn, chẳng hạn những người vừa là cổ đông lớn, vừa nắm giữ chức quyền hạn của Người địa diện theo pháp luật, Chủ tịch hội đồng quản trị. Bằng thủ thuật chuyển nhượng cổ phần cổ phiếu của công ty, hoặc hoán đổi cổ phần giữa một công ty sắp phá sản với công ty thực tế đang kinh doanh phát triển qua mắt các cổ đông còn lại. Trên thực tế, không phải công ty nào cũng được thành lập để kinh doanh làm ăn chân chính hoặc có tiềm năng cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên, vì sự toan tính của một nhóm người, đã dẫn đến tranh chấp nội bộ xảy ra, ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của công ty.

5. Hạn chế trong quy định giải quyết tranh chấp

Theo quy định tại khoản 2 Điều 115 Luật Doanh nghiệp năm 2020, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu tỷ lệ vốn từ 05% tổng số cổ phần phổ thông trở lên có quyền triệu tập cuộc họp bất thường và từ 10% trở lên có quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị, Ban kiểm sát.Tuy nhiên trên thực tiễn, những cổ đông nhỏ lẻ tại các CTCP chưa thật sự được bảo vệ tốt quyền lợi do quy định về tỷ lệ biểu quyết của Công ty. Ví dụ: quy định 50% cổ đông triệu tập có mặt thì tổ chức Đại hội, 65% cổ phần có mặt biểu quyết là thông qua… Nếu doanh nghiệp bị đứt gãy trong đội ngũ lãnh đạo và có dấu hiệu lợi ích nhóm thì hầu hết những cổ đông nhỏ lẻ bị lép vế và không được đảm bảo về quyền lợi.

Ngoài quy định về việc giải quyết mâu thuẫn trong doanh nghiệp qua các cuộc Đại hội thì Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp đối với các cổ đông trong CTCP.  Theo Điều 37, 30 BLDS năm 2015, tranh chấp giữa các cổ đông công ty thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp tỉnh và thời hạn giải quyết là 2 tháng. Tuy nhiên, trên thực tiễn, hầu hết các vụ án về kinh doanh thương mại đều kéo dài quá 2 tháng, thậm chí đến vài năm, dẫn đến mất cơ hội cho các nhà đầu tư (đặc biệt là đầu tư nhỏ lẻ).

  1. Giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp

Pháp luật luôn tạo điều kiện cho cổ đông thuận lợi trong việc chuyển nhượng, tuy nhiên chưa thực sự tạo một hành lang pháp lý chặt chẽ để hai bên tránh được tranh chấp sau này. Đến nay, chưa có án lệ nào giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại liên quan đến tranh chấp các cổ đông về quyền lợi và nghĩa vụ trong CTCP. Trong triết học, “phát triển chính là kết quả của quá trình giải quyết mâu thuẫn”. Chắc chắn, khi nhà làm luật quy định về CTCP với những điều luật mở thì đã tạo cho chính những nhà đầu tư, các cổ đông một sân chơi mà chỉ khi có tranh chấp về quyền lợi thì pháp luật sẽ can thiệp. Quy định của pháp luật trong kinh doanh thương mại, vừa mềm dẻo linh hoạt, vừa cứng rắn. Chỉ có như vậy, vừa thúc đẩy phát triển kinh tế, vận dụng các nguyên lý triết học, kinh tế học vừa thể hiện quyền lực nhà nước đúng lúc đúng chỗ. Kiến nghị một số biện phấp khắc phục như sau:

Thứ nhất, minh bạch tài chính doanh nghiệp, pháp luật quy định cụ thể danh mục hồ sơ cần có của công ty khi người nhận cổ phần yêu cầu cung cấp để nắm được tình hình tài chính của công ty trước khi họ quyết định.

Thứ hai, trong quá trình chuyển nhượng, thay vì chấp nhận tư cách thành viên khi họ có tên trong sổ đăng ký cổ đông thì cần quy định bắt buộc tổ chức cuộc họp ĐHĐCĐ đối với thương vụ chuyển nhượng của những cổ đông sáng lập, hoặc cổ đông lớn chiếm trên 35% cổ phần. Thời điểm trở thành cổ đông chính thức được tính kể từ khi thương vụ chuyển nhượng được thông báo đến toàn bộ cổ đông hiện hữu.

Cuối cùng, đối với tranh chấp kinh doanh thương mại, Tòa án cần nhanh chóng bổ sung án lệ để tạo tiền đề cho một số tranh chấp pháp luật phổ biến, đồng thời chú ý nhiều hơn đến việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với vụ án tranh chấp về kinh doanh thương mại.

Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn về Tranh chấp giữa các cổ đông trong công ty cổ phần

Nội dung của nó không phải là lời khuyên pháp lý và không nên được coi là lời khuyên chi tiết trong các trường hợp riêng lẻ. Để được tư vấn Tranh chấp giữa các cổ đông trong công ty cổ phần vui lòng liên hệ:

CÔNG TY LUẬT TNHH UNILAW
Hotline: 0912266811
Facebook: Nguyen Nhu Hai
Đọc tiếp
08 Tháng Mười Hai 2022
Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế của Ủy ban Liên hiệp quốc về Luật Thương mại quốc tế

Bài viết dưới đây công ty Luật TNHH Unilaw giới thiệu đến quý bạn đọc Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế của Ủy ban Liên hiệp quốc về Luật Thương mại quốc tế.

UỶ BAN CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

 (Tài liệu số A/40/17, phụ lục I của Liên Hợp Quốc)

(Ðược ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế thông qua

 

CHƯƠNG I: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

 

Điều 1: PHẠM VI ÁP DỤNG

1. Luật này áp dụng cho trọng tài thương mại quốc tế, theo bất kỳ thoả thuận hiện hành nào giữa quốc gia này với quốc gia khác hoặc các quốc gia.

2. Những qui định của Luật này, trừ các Điều 8, Điều 9, Điều 35 và Điều 36 chỉ áp dụng nếu nơi xét xử trọng tài là tại lãnh thổ của Nước này.

3. Trọng tài là quốc tế nếu:

a. Các bên tham gia thoả thuận trọng tài, tại thời điểm ký kết thoả thuận trọng tài đó, có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau; hoặc

b. Một trong những địa điểm mà các bên có trụ sở kinh doanh sau đây được đặt ở ngoài quốc gia:

        i.   Nơi xét xử trọng tài nếu được xác định trong hoặc theo thoả thuận trọng tài;

       ii.  Nơi mà phần chủ yếu của các nghĩa vụ trong quan hệ thương mại được thực hiện hoặc nơi mà nội dung tranh chấp có quan hệ mật thiết nhất;

c. Các bên đã thoả thuận rõ rằng vấn đề chủ yếu của thoả thuận trọng tài liên quan đến nhiều nước.

4. Cũng là trọng tài quốc tế giống như qui định của khoản 3 Điều này:

a.Nếu một bên có nhiều trụ sở kinh doanh thì trụ sở kinh doanh sẽ là nơi có quan hệ chặt chẽ nhất với thoả thuận trọng tài.

b.Nếu một bên không có trụ sở kinh doanh thì nơi cư trú thường xuyên sẽ được dẫn chiếu tới.

5. Luật này không ảnh hưởng đến luật khác của nước này với một số loại tranh chấp không thể giải quyết bằng trọng tài hoặc có thể đưa ra trọng tài theo những qui định khác với qui định của luật này.

Điều 2: CÁC ĐỊNH NGHĨA VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC GIẢI THÍCH 

Về mục đích của luật này:

a. “Trọng tài” nghĩa là mọi hình thức trọng tài có hoặc không có sự giám sát của một tổ chức trọng tài thường trực;

b. “Ủy ban trọng tài” nghĩa là trọng tài viên duy nhất hoặc hội đồng các trọng tài viên;

c. “Toà án” nghĩa là tổ chức hoặc cơ quan thuộc hệ thống tư pháp của một nước;

d. Khi qui định của luật này, trừ Điều 28, để các bên tự do quyết định một vấn đề nhất định, sự tự do này bao gồm cả quyền của các bên được ủy quyền cho bên thứ ba, kể cả tổ chức, để đưa ra quyết định đó;

e. Nếu qui định của luật này dẫn chiếu đến việc các bên đã thoả thuận hoặc các bên có thể thoả thuận hoặc theo bất kỳ cách nào khác dẫn chiếu đến thoả thuận trọng tài, thoả thuận đó bao gồm cả qui tắc trọng tài được viện dẫn tới trong thoả thuận này;

f. Nếu qui định của luật này, trừ qui định trong Điều 25 (a) và Điều 32 (2) (a) dẫn chiếu đến một đơn kiện, cũng sẽ được áp dụng cho đơn kiện lại, và nếu qui định của luật này dẫn chiếu đến bản bào chữa cũng áp dụng cho bản tự bảo vệ đối với đơn kiện lại.   

Điều 3: BIÊN NHẬN VÀ CÁC GIAO DỊCH BẰNG VĂN BẢN 

1. Nếu các bên không có thoả thuận nào khác:

a. Bất cứ giao dịch nào bằng văn bản sẽ được coi là đã nhận được nếu nó được chuyển riêng tới người nhận hoặc nếu được gửi đến trụ sở kinh doanh, nơi thường trú hoặc địa chỉ gửi thư của người đó mà các địa chỉ trên không thể tìm thấy sau những nỗ lực hợp lý, các giao dịch bằng văn bản được xem là đã nhận được nếu nó được gửi đến trụ sở kinh doanh, hoặc địa chỉ bưu điện được biết tới cuối cùng của người nhận bằng thư bảo đảm hoặc bằng cách thức khác có ghi nhận về việc chuyển thư đi.

b. Các giao dịch bằng văn bản sẽ được coi là đã nhận được vào ngày nó được chuyển tới.

2. Các qui định của Điều này không áp dụng cho việc giao dịch trong tố tụng toà án.

Điều 4: KHƯỚC TỪ QUYỀN PHẢN ĐỐI

Khi một bên biết rằng bất kì Điều khoản của Luật này có thể bị các bên làm tổn hại, hoặc bất kì yêu cầu nào theo thoả thuận trọng tài chưa được tuân thủ và vẫn tiếp tục tiến hành trọng tài mà không tuyên bố sự phản đối của mình về những việc không chấp hành đó trong thời hạn cho phép thì sẽ xem như đã từ bỏ quyền phản đối của mình.

Điều 5: MỞ RỘNG CAN THIỆP CỦA TOÀ ÁN.

Ðối với những vấn đề do Luật này Điều chỉnh, không có Toà án nào sẽ can thiệp vào trừ khi những trường hợp được Luật này qui định.

Điều 6: TOÀ ÁN HOẶC CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN KHÁC VÌ MỘT SỐ CHỨC NĂNG NHẤT ĐỊNH TRONG VIỆC HỖ TRỢ VÀ GIÁM SÁT TRỌNG TÀI 

Những chức năng được đề cập tới tại các Điều 11(3) , Điều 11(4), Điều 13(3), Điều 14, Điều 16(3) và Điều34(2) sẽ được thực hiện bởi (Mỗi quốc gia thông qua luật mẫu này ghi rõ toà án, các toà án hoặc những cơ quan có thẩm quyền khác thực hiện những chức năng này trong toà án).

CHƯƠNG II

THOẢ THUẬN TRỌNG TÀI

Điều 7: ÐỊNH NGHIÃ VÀ HÌNH THỨC CỦA THOẢ THUẬN TRỌNG TÀI  

1. “Thoả thuận trọng tài” là thoả thuận mà các bên đưa ra trọng tài mọi hoặc các tranh chấp nhất định phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa các bên về quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải là quan hệ hợp đồng. Thoả thuận trọng tài có thể dưới hình thức Điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thoả thuận riêng.

2. Thoả thuận trọng tài phải được lập thành văn bản. Thoả thuận là văn bản nếu nó nằm trong một văn bản được các bên ký kết hoặc bằng sự trao đổi qua thư từ, Telex, telegrams hoặc các hình thức trao đổi viễn thông khác mà ghi nhận thoả thuận đó hoặc qua trao đổi về đơn kiện và bản biện hộ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận. Việc dẫn chiếu trong hợp đồng tới một văn bản ghi nhận Điều khoản trọng tài lập nên thoả thuận trọng tài với Điều kiện hợp đồng này phải là văn bản và sự dẫn chiếu đó là một bộ phận của hợp đồng này.

Điều 8: THOẢ THUẬN TRỌNG TÀI VÀ ĐƠN KIỆN NỘI DUNG TRANH CHẤP TRƯỚC TOÀ 

1. Trước khi việc kiện về vấn đề đối tượng của thỏa thuận được đưa ra, nếu một bên yêu cầu không muộn hơn thời gian khi nộp bản tường trình đầu tiên của mình về nội dung tranh chấp, toà án sẽ chuyển các bên cho trọng tài trừ khi toà án thấy rằng thoả thuận đó là vô hiệu và không có hiệu lực, không tiến hành được và không có khả năng thực hiện.

2. Nếu việc đi kiện được nêu tại khoản 1 Điều này đã đưa ra, tố tụng trọng tài vẫn có thể được bắt đầu và tiếp tục và phán quyết có thể được tuyên trong khi vấn đề đó sẽ tạm đình chỉ trước toà.

 Điều 9: THOẢ THUẬN TRỌNG TÀI VÀ CÁC BIỆN PHÁP TẠM THỜI CỦA TOÀ ÁN

Không có gì trái với thoả thuận trọng tài để một bên trước hoặc trong quá trình tố tụng trọng tài yêu cầu và toà án áp dụng các biện pháp bảo đảm tạm thời và để toà án ra các biện pháp bảo đảm đó.

CHƯƠNG III

THÀNH LẬP UỶ BAN TRỌNG TÀI

Điều 10: SỐ LƯỢNG TRỌNG TÀI VIÊN 

1. Các bên được tự do quyết định số lượng trọng tài viên.

2. Nếu các bên không quyết định, số lượng trọng tài viên sẽ là 3 người. 

Điều 11: CHỈ ĐỊNH TRỌNG TÀI VIÊN

1. Không ai bị cản trở để thành trọng tài viên vì lý do quốc tịch, nếu các bên không có thoả thuận nào khác.

2. Các bên có quyền tự do thoả thuận về cách thức chỉ định trọng tài viên hoặc các trọng tài viên, theo qui định của khoản 4 và 5 Điều này.

3. Nếu không có thoả thuận của các bên:

a. Trong trọng tài với ba trọng tài viên, mỗi bên sẽ chỉ định một trọng tài viên, và hai trọng tài viên được chỉ định sẽ bầu trọng tài viên thứ ba; nếu một bên không chỉ định trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu làm như vậy của phía bên kia hoặc nếu hai trọng tài viên không thoả thuận được trọng tài viên thứ ba trong vòng 30 ngày kể từ ngày họ được chỉ định, căn cứ yêu cầu của một bên, toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền được xác định tại Điều 6 sẽ tiến hành chỉ định.

b. Trong trọng tài viên với một trọng tài viên duy nhất, nếu các bên không thể thoả thuận chọn trọng tài viên này, căn cứ vào yêu cầu của một bên, toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền được xác định tại Điều 6 sẽ tiến hành chỉ định trọng tài viên duy nhất này.

4. Khi, theo cách thức chỉ định trọng tài viên được các bên thoả thuận.

a. Một bên không thực hiện như yêu cầu theo cách thức đó, hoặc

b. Các bên hoặc hai trọng tài viên không thể đạt được sự thoả thuận của mình theo trình tự đó, hoặc

c. Bên thứ ba, bao gồm tổ chức, không tiến hành chức năng được ủy thác theo trình tự đó thì bất cứ bên nào cũng có thể yêu cầu toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền được xác định tại Điều 6 tiến hành các biện pháp cần thiết, trừ khi thoả thuận về cách thức chỉ định trọng tài viên đưa ra giải pháp khác về việc đảm bảo việc chỉ định này.

5. Quyết định về vấn đề được ủy thác ở khoản (3) hoặc (4) của Điều này cho toà án hoặc tổ chức có thẩm quyền được xác định tại Điều 6 sẽ không phải là đối tượng để kháng án. Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác, trong việc chỉ định trọng tài viên, sẽ phải tôn trọng đúng mực về bất kỳ tiêu chuẩn nào được yêu cầu về trọng tài viên theo thoả thuận của các bên và cân nhắc cần thiết để đảm bảo việc chỉ định trọng tài viên độc lập và khách quan và, trong trường hợp trọng tài viên duy nhất hoặc trọng tài viên thứ ba, cũng phải tính đến có nên chỉ định trọng tài viên có quốc tịch khác với quốc tịch của các bên hay không.

Điều 12: CƠ SỞ TỪ CHỐI

1. Khi một người có khả năng được chỉ định làm trọng tài viên thì người đó cần phải công khai những hoàn cảnh có thể gây ra những nghi ngờ chính đáng về tính khách quan hoặc độc lập của mình. Kể từ khi được chỉ định và trong suốt quá trình tố tụng trọng tài, trọng tài viên sẽ không được trì hoãn thông báo những hoàn cảnh đã nêu cho các bên biết, trừ khi các bên đã được trọng tài viên này thông báo rồi.

2. Trọng tài viên có thể bị từ chối chỉ khi có hoàn cảnh đem lại sự nghi ngờ chính đáng liên quan đến tính khách quan và độc lập của trọng tài viên này hoặc khi anh ta không có đủ phẩm chất như các bên đã thoả thuận. Một bên chỉ có thể từ chối trọng tài viên do chính mình chỉ định hoặc trong việc chỉ định trọng tài viên mà bên đó tham gia, chỉ vì những lý do mà bên đó biết biết sau khi đã tiến hành xong việc chỉ định.  

Điều 13: THỦ TỤC TỪ CHỐI

1. Các bên được tự do thoả thuận thủ tục để từ chối trọng tài viên theo qui định khoản 3 của Điều này.

2. Nếu không có thoả thuận, bên có ý định từ chối trọng tài viên sẽ gửi văn bản nêu rõ những lý do để từ chối ủy ban trọng tài trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận thông báo thành lập ủy ban Trọng tài hoặc sau khi biết những hoàn cảnh được nêu tại Điều 12 (2). Nếu trọng tài viên bị từ chối không rút khỏi ủy ban trọng tài hoặc bên kia không đồng ý về việc từ chối này, ủy ban trọng tài sẽ quyết định.

3. Nếu việc từ chối theo thủ tục được các bên thoả thuận hoặc theo thủ tục được qui định tại khoản 2 Điều này không thành công, bên từ chối, trong thời hạn 30 ngày sau khi nhận được quyết định bác việc từ chối, có thể yêu cầu toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền được xác định tại Điều 6 quyết định về việc từ chối này, quyết định này không phải là đối tượng để kháng án, trong khi yêu cầu này bị tạm hoãn, ủy ban trọng tài kể cả trọng tài viên bị từ chối, có thể tiếp tục tố tụng trọng tài và ra phán quyết.  

Điều 14: KHÔNG THỰC HIỆN HOẶC KHÔNG THỂ TIẾN HÀNH

1. Nếu một trọng tài viên thực tế không thể thực hiện nhiệm vụ của mình hoặc vì lý do nào đó không thực hiện được, nhiệm vụ của trọng tài viên này chấm dứt nếu trọng tài viên đó rút khỏi ủy ban Trọng tài hoặc nếu các bên nhất trí với việc chấm dứt đó. Ngược lại, nếu còn có bất đồng về cơ sở của việc chấm dứt này, bất cứ bên nào cũng có thể yêu cầu toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác được xác định theo Điều 6 quyết định về việc chấm dứt nhiệm vụ của trọng tài viên đó, quyết định này không là đối tượng để kháng án.

2. Nếu, theo Điều này hoặc Điều 13 (2) trọng tài viên rút khỏi vị trí của mình hoặc bên đồng ý chấm dứt nhiệm vụ của trọng tài viên, Điều này không hàm ý việc chấp nhận giá trị pháp lý của các căn cứ được dẫn chiếu trong Điều này và Điều 12(2).

 Điều 15: CHỈ ĐỊNH TRỌNG TÀI VIÊN THAY THẾ 

Khi nhiệm vụ của trọng tài viên chấm dứt theo các Điều 13 hoặc 14 hoặc vì những nguyên nhân khác về việc rút khỏi của trọng tài viên đó hoặc do các bên thoả thuận rút bỏ thẩm quyền của trọng tài viên hoặc trong các trường hợp khác về việc chấm dứt nhiệm vụ trọng tài viên, trọng tài viên thay thế sẽ được chỉ định theo những nguyên tắc được áp dụng cho việc chỉ định trọng tài viên bị thay thế. 

CHƯƠNG IV

THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA UỶ BAN TRỌNG TÀI

 

Điều 16: THẨM QUYỀN CỦA UỶ BAN TRỌNG TÀI QUI ĐỊNH THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA MÌNH

1. Ủy ban trọng tài có thể quyết định về thẩm quyền xét xử của chính mình, kể cả những ý kiến phản đối về sự tồn tại hoặc giá trị pháp lý của thoả thuận trọng tài. Vì mục đích này, Điều khoản trọng tài trở thành bộ phận của hợp đồng sẽ được coi là thoả thuận độc lập với các Điều khoản khác của hợp đồng. Quyết định của ủy ban Trọng tài về hợp đồng bị vô hiệu không làm cho Điều khoản trọng tài bị vô hiệu theo.

2. Ðơn yêu cầu về việc ủy ban Trọng tài không có thẩm quyền sẽ phải đưa ra không muộn hơn với việc nộp bản biện hộ. Không thể ngăn cản bên đưa ra đơn yêu cầu này chỉ vì đã chỉ định trọng tài viên hoặc tham gia việc chỉ định trọng tài viên. Ðơn yêu cầu về việc ủy ban Trọng tài vượt quá phạm vi được ủy quyền phải được đưa ra ngay khi nhận thấy sự kiện được cho là vượt quá thẩm quyền của ủy ban Trọng tài nảy sinh trong quá trình tố tụng Trọng tài. Một trong hai trường hợp này, uỷ ban Trọng tài có thể chấp nhận đơn yêu cầu sau nếu uỷ ban xét thấy sự trì hoãn này là hợp lý.

3. Ủy ban trọng tài có thể quyết định về đơn yêu cầu chỉ ra ở khoản 2 của Điều này như là vấn đề mở đầu hoặc giải quyết tại phán quyết về nội dung tranh chấp. Nếu ủy ban Trọng tài giải quyết như là một vấn đề mở đầu là ủy ban có thẩm quyền xét xử, thì bất kỳ bên nào cũng có thể, trong vòng 30 ngày sau khi nhận được thông báo về quyết định này, đề nghị toà án được xác định tại Điều 6 quyết định vấn đề này, quyết định này không bị kháng án; trong khi yêu cầu đó đang chờ giải quyết thì ủy ban Trọng tài vẫn có thể tiếp tục tiến hành quá trình tố tụng và đưa ra phán quyết.

Điều 17: THẨM QUYỀN CỦA UỶ BAN TRỌNG TÀI  RA CÁC BIỆN PHÁP TẠM THỜI 

Trừ khi các bên có thoả thuận khác, ủy ban Trọng tài có thể theo yêu cầu của một bên buộc bất kỳ bên nào phải tiến hành biện pháp bảo vệ tạm thời khi ủy ban Trọng tài thấy cần thiết đối với nội dung tranh chấp. Ủy ban Trọng tài có thể yêu cầu bất kỳ phía nào đưa ra sự bảo đảm thích hợp về biện pháp trên.

CHƯƠNG V: HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI

Điều 18: ÐỐI XỬ CÔNG BẰNG VỚI CÁC BÊN 

Các bên phải được đối xử một cách công bằng và mỗi bên phải có cơ hội đầy đủ để trình bày về vụ kiện. 

Điều 19: XÁC ĐỊNH CÁC NGUYÊN TẮC VỀ TỐ TỤNG 

1. Theo qui định của luật này, các bên được tự do thoả thuận về tố tụng mà ủy ban Trọng tài phải thực hiện khi tiến hành tố tụng.

2. Nếu không có thoả thuận đó, ủy ban Trọng tài có thể, theo qui định của luật này, tiến hành trọng tài theo cách thức mà ủy ban Trọng tài cho là thích hợp. Quyền trao cho ủy ban Trọng tài bao gồm quyền xác định việc thừa nhận, tính hợp lý, sự xác đáng và trọng lượng của chứng cứ. 

Điều 20: NƠI TIẾN HÀNH TRỌNG TÀI

1. Các bên được tự do thoả thuận nơi tiến hành trọng tài. Nếu không thoả thuận, nơi xét xử trọng tài sẽ được ủy ban Trọng tài quyết định căn cứ vào hoàn cảnh của vụ kiên, tính tới sự thuận tiện cho các bên.

2. Dẫu có qui định của khoản 1 của Điều này, ủy ban Trọng tài có thể, trừ khi các bên có thoả thuận khác, tổ chức tại địa điểm được xem là thích hợp cho việc hỏi ý kiến các ủy viên, cho việc mời nhân chứng, chuyên gia hoặc các bên hoặc việc giám định hàng hoá, tài sản khác hoặc văn bản.

Điều 21: KHỞI ĐẦU TỐ TỤNG TRỌNG TÀI

Nếu các bên không có thoả thuận nào khác, tố tụng của ủy ban Trọng tài liên quan đến tranh chấp cụ thể bắt đầu từ ngày đơn kiện gửi tới trọng tài được bị đơn nhận. 

Điều 22: NGÔN NGỮ

1. Các bên tự do thoả thuận về ngôn ngữ hoặc các ngôn ngữ được sử dụng trong tố tụng trọng tài. Nếu không thoả thuận, ủy ban trọng tài sẽ quyết định ngôn ngữ hoặc các ngôn ngữ được sử dụng trong tố tụng. Thoả thuận này hoặc quyết định này, trừ khi được xác định rõ trong đó, sẽ áp dụng với văn bản của các bên, trong phiên xét xử và trong phán quyết, quyết định hoặc các hình thức giao dịch của ủy ban Trọng tài.

2. Ủy ban Trọng tài có thể yêu cầu chứng cứ bằng văn bản phải được gửi kèm theo bản dịch sang ngôn ngữ hoặc những ngôn ngữ mà các bên đã thoả thuận hoặc được ủy ban Trọng tài quyết định.

Điều 23: ĐƠN KIỆN VÀ ĐƠN BIỆN HỘ

1. Trong thời gian do các bên thoả thuận hoặc do ủy ban trọng tài quyết định, nguyên đơn sẽ nêu rõ các sự việc chứng minh cho đơn kiện của mình, những điểm của tranh chấp, những thiệt hại và những yêu cầu của nguyên đơn, và bị đơn sẽ trình bày bản tự bào chữa về những điểm cụ thể này, trừ khi các bên có thoả thuận khác về những điểm cần cho những văn bản này. Các bên có thể nộp bản giải trình của mình cùng với các chứng từ mà họ cho là có liên quan hoặc có thể bổ sung việc dẫn chiếu đến những chứng từ hoặc chứng cứ khác mà các bên đưa ra.

2. Nếu các bên không có thoả thuận nào khác, một trong hai bên có thể sửa đổi hoặc bổ sung đơn kiện hoặc bản tự bào chữa của mình trong quá trình tố tụng trọng tài, trừ khi ủy ban trọng tài cho rằng Điều đó không thích hợp để cho phép việc sửa đổi đó dẫn đến sự chậm trễ trong quá trình tiến hành việc này. 

Điều 24: XÉT XỬ TỐ TỤNG VĂN BẢN

1. Nếu các bên có thoả thuận ngược lại, ủy ban trọng tài sẽ quyết định xem là tiến hành phiên xét xử nói trên để trình bày chứng cứ hay là tranh luận giữa các bên, hoặc tố tụng này sẽ được tiến hành trên cơ sở xem xét chứng từ hoặc tài liệu khác. Tuy nhiên, trừ khi các bên đã thoả thuận không một phiên xét xử nào được tổ chức, ủy ban Trọng tài sẽ tổ chức những phiên xét xử vào những giai đoạn tố tụng thích hợp, nếu nó được một bên yêu cầu.

2. Các bên sẽ được nhận thông báo trước về những phiên xét xử và những cuộc họp của ủy ban Trọng tài vì mục đích giám định hàng hoá, tài sản hoặc chứng từ.

3. Tất cả các bản giải trình, chứng từ hoặc các thông tin khác được một bên cung cấp cho ủy ban Trọng tài cũng sẽ được gửi cho bên kia. Tương tự với các báo cáo của các chuyên gia hoặc các chứng cứ về những vấn đề mà ủy ban Trọng tài dựa vào để đưa ra quyết định sẽ phải được thông báo cho các bên biết.

Điều 25: SỰ VẮNG MẶT CỦA MỘT BÊN

Nếu các bên không có thoả thuận nào khác, nếu, không có lý do chính đáng,

a. Nguyên đơn không trao đổi về đơn kiện của mình theo qui định của Điều 23(1), ủy ban trọng tài sẽ đình chỉ tố tụng;

b. Bị đơn không gửi bản biện hộ theo qui định Điều 23(1), ủy ban trọng tài sẽ tiếp tục tố tụng mà coi việc không có bản biện hộ như là sự chấp nhận những lý lẽ của nguyên đơn.

c. Bất kỳ bên nào không có mặt tại phiên xét xử hoặc đưa ra chứng cứ, ủy ban trọng tài có thể tiếp tục tố tụng và đưa ra phán quyết trên cơ sở những chứng cứ trước đó.

Điều 26: CHUYÊN GIA ĐƯỢC UỶ BAN TRỌNG TÀI CHỈ ĐỊNH  

1. Nếu các bên không có thoả thuận nào khác, ủy ban trọng tài

a.Có thể chỉ định một hoặc một số chuyên gia báo cáo cho ủy ban trọng tài về những vấn đề cụ thể do ủy ban trọng tài quyết định;

b.Có thể yêu cầu một bên cung cấp cho các chuyên gia những thông tin có liên quan hoặc đưa ra hoặc cho phép chuyên gia vào, bất kỳ các chứng từ liên quan, hàng hoá hoặc tài sản khác để tiến hành giám định.

2. Trừ khi các bên có thoả thuận khác, nếu một bên có yêu cầu hoặc nếu ủy ban trọng tài thấy cần thiết sau khi chuyển bản báo cáo bằng miệng hoặc bằng văn bản, các chuyên gia sẽ tham dự phiên xét xử để các bên có cơ hội nêu các câu hỏi với chuyên gia và đưa ra những nhân chứng cho chuyên viên để thẩm định những điểm của vấn đề đó.

Điều 27: SỰ GIÚP ĐỠ CỦA TOÀ ÁN TRONG VIỆC THU THẬP CHỨNG CỨ

Ủy ban trọng tài hoặc một bên với sự đồng ý của ủy ban trọng tài có thể yêu cầu toà án có thẩm quyền của Nước này trợ giúp thu thập chứng cứ. Toà án có thể thực hiện yêu cầu đó trong phạm vi thẩm quyền của mình và theo nguyên tắc về thu thập chứng cứ. 

CHƯƠNG VI

LẬP PHÁN QUYẾT VÀ CHẤM DỨT TỐ TỤNG

 

Điều 28: NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NỘI DUNG TRANH CHẤP 

1. Ủy ban trọng tài sẽ quyết định tranh chấp căn cứ vào nguyên tắc của luật áp dụng cho nội dung tranh chấp mà các bên đã chọn. Bất kì sự chỉ rõ luật hoặc hệ thống pháp lý của nước được chọn sẽ được giải thích trừ khi qui định khác như là sự dẫn chiếu một cách trực tiếp tới luật nội dung của quốc gia đó và không dẫn chiếu đến nguyên tắc xung đột luật của nước này.

2. Nếu các bên không chọn luật, ủy ban trọng tài sẽ áp dụng luật được xác định bởi các nguyên tắc xung đột luật mà ủy ban trọng tài thấy là thích hợp.

3. Ủy ban trọng tài có thể quyết định trên cơ sở lẽ công bằng hoặc tính hợp lý chi khi các bên đã ủy quyền rõ ràng cho ủy ban được làm như vậy.

4. Trong mọi trường hợp, ủy ban trọng tài sẽ quyết định căn cứ vào các Điều khoản của hợp đồng và cân nhắc tới tập quán thương mại áp dụng cho giao dịch đó.

Điều 29: RA QUYẾT ĐỊNH CỦA UỶ BAN TRỌNG TÀI

Trong tố tụng trọng tài gồm nhiều trọng tài viên, nếu các bên không có thoả thuận nào khác, việc

quyết định của ủy ban trọng tài theo nguyên tắc đa số của các thành viên trong ủy ban. Tuy nhiên, vấn đề về tố tụng có thể được quyết định bởi Chủ tịch ủy ban nếu được các bên và các thành viên khác của ủy ban trọng tài ủy quyền.

Điều 30: GIẢI QUYẾT

1. Nếu trong quá trình tố tụng trọng tài, các bên giải quyết được tranh chấp, ủy ban trọng tài sẽ chấm dứt tố tụng khi các bên có yêu cầu và ủy ban trọng tài không phản đối, và ghi nhận việc giải quyết này dưới hình thức phán quyết trọng tài về các Điều kiện thoả thuận.

2. Phán quyết về Điều kiện được thoả thuận sẽ được lập theo với qui định tại Điều 31 và sẽ được tuyên như là một phán quyết. Phán quyết này có vị trí và hiệu lực tương tự như phán quyết về nội dung vụ kiện.

Điều 31: HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG PHÁN QUYẾT

1. Phán quyết phải được lập bằng văn bản và phải được trọng tài viên hoặc các trọng tài viên ký. Trong tố tụng trọng tài gồm nhiều trọng tài viên, chữ ký của đa số các trọng tài viên trong ủy ban trọng tài là đủ, nếu như có nêu lý do về những chữ ký khuyết.

2. Trừ khi các bên thoả thuận rằng không nêu lý do hoặc phán quyết là phán quyết về các Điều khoản được thoả thuận theo Điều 30, phán quyết phải nêu rõ lý do làm căn cứ để quyết định.

3. Phán quyết này phải nêu rõ ngày và địa điểm lập phán quyết như qui định theo Điều 20(1) Phán quyết sẽ được xem là được lập tại nơi đó.

4. Sau khi phán quyết được lập, một bản được các trọng tài viên ký theo qui định tại khoản 1 của Điều này sẽ được tống đạt cho mỗi bên. 

Điều 32: CHẤM DỨT TỐ TỤNG

1. Tố tụng trọng tài sẽ được chấm dứt bởi phán quyết chung thẩm hoặc bởi yêu cầu của ủy ban trọng tài theo qui định tại khoản 2 Điều này.

2. Ủy ban trọng tài sẽ đưa ra yêu cầu chấm dứt tố tụng trọng tài khi:

a. Nguyên đơn rút đơn kiện, trừ khi bị đơn phản đối việc này và ủy ban trọng tài công nhận lợi ích chính đáng của bị đơn trong việc có được một giải pháp cuối cùng về tranh chấp.

b. Các bên đồng ý chấm dứt tố tụng.

c. Ủy ban trọng tài thấy rằng việc tiếp tục tố tụng vì bất cứ lý do nào khác là không cần thiết và không thể được.

3. Trao quyền cho ủy ban trọng tài kết thúc quá trình tố tụng theo qui định tại các Điều 33 và 34(4). 

Điều 33: SỬA CHỮA VÀ GIẢI THÍCH PHÁN QUYẾT; PHÁN QUYẾT BỔ SUNG

1. Trừ khi các bên thoả thuận một thời hạn khác, trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được phán quyết:

a. Một bên có thể yêu cầu ủy ban trọng tài sửa trong phán quyết những lỗi về tính toán, đánh máy hoặc lỗi in hoặc những lỗi tương tự, có thông báo cho bên kia biết về Điều này.

b. Nếu các bên có thoả thuận, một bên có thể yêu cầu ủy ban trọng tài đưa ra những giải thích về điểm cụ thể hoặc một phần của phán quyết, có thông báo cho bên kia về yêu cầu này.

Nếu ủy ban trọng tài thấy rằng yêu cầu này là chính đáng, ủy ban trọng tài sẽ tiến hành sửa chữa lại hoặc đưa ra lời giải thích trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu. Giải thích này là một bộ phận của phán quyết.

2. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày lập phán quyết, ủy ban trọng tài có thể chủ động sửa những lỗi đánh máy sai được nêu tại khoản 1 điểm a Điều này.

3. Nếu các bên không có thoả thuận nào khác, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được phán quyết, một bên có thể yêu cầu ủy ban trọng tài ra phán quyết bổ sung những khiếu nại được nêu ra trong quá trình tố tụng nhưng lại không được nêu trong phán quyết và phải thông báo yêu cầu này cho bên kia. Nếu ủy ban trọng tài cho rằng yêu cầu này là chính đáng thì ủy ban trọng tài sẽ ra phán quyết bổ sung trong thời hạn 60 ngày.

4. Nếu cần thiết ủy ban trọng tài sẽ gia hạn việc sửa chữa, giải thích hoặc ra phán quyết bổ sung theo khoản 1 và 3 Điều này.

5. Những qui định của Điều 31 sẽ chỉ áp dụng về việc sửa chữa hoặc giải thích trong phán quyết hoặc ra phán quyết bổ sung. 

CHƯƠNG VII

YÊU CẦU TOÀ ÁN BÁC PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI

Điều 34: ÐƠN YÊU CẦU HUỶ BỎ PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI LÀ CÁCH THỨC DUY NHẤT ĐỂ YÊU CẦU TOÀ ÁN BÁC PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI.

1. Việc yêu cầu toà án bác phán quyết của trọng tài chỉ có thể được tiến hành thông qua đơn yêu cầu toà án hủy bỏ phán quyết phù hợp với quy định tại các đoạn (2) và (3) của Điều này.

2. Một phán quyết chỉ có thể bị toà án theo qui định tại Điều 6 hủy bỏ trong trường hợp:

a.Bên làm đơn yêu cầu đưa ra những bằng chứng khẳng định rằng:

   i.  Một trong các bên ký kết thoả thuận trọng tài theo qui định tại Điều 7 không đủ năng lực ký kết thoả thuận đó; hoặc thoả thuận nói trên không có giá trị pháp lý theo luật mà các bên đã chọn để áp dụng hoặc theo luật của nước nơi phán quyết được tuyên trong trường hợp mà các bên không ghi rõ; hoặc 

   ii. Bên phải thi hành phán quyết không được thông báo một cách đầy đủ về việc chỉ định trọng tài viên hoặc tố tụng trọng tài hoặc nói cách khác không thể thực hiện việc tranh tụng của mình; hoặc

  iii.  Phán quyết giải quyết tranh chấp không được qui định hoặc không nằm trong phạm vi các Điều khoản của thoả thuận đưa ra trọng tài giải quyết, hoặc phán quyết này bao gồm những quyết định về các vấn đề vượt quá phạm vi của thoả thuận trọng tài giải quyết với Điều kiện là những quyết định về các vấn đề đưa ra trọng tài giải quyết có thể tách ra khỏi những vấn đề không được đưa ra trọng tài và chỉ có phần của phán quyết chứa đựng các quyết định về vấn đề không được nêu ra trọng tài giải quyết có thể bị hủy bỏ; hoặc

   iv. Thành phần của ủy ban trọng tài hoặc tố tụng trọng tài không phù hợp với thoả thuận giữa các bên trừ trường hợp thoả thuận này trái với Điều khoản trong luật này mà các bên không thể vi phạm được, hoặc nếu không có thoả thuận đó, không phù hợp với luật này; hoặc

b. Toà án phát hiện rằng:

    i.  Theo luật của nước đó, vấn đề nội dung tranh chấp không thể giải quyết bằng trọng tài được; hoặc

    ii.  Phán quyết mâu thuẫn với chính sách công của quốc gia đó.

3. Ðơn yêu cầu hủy bỏ phán quyết không được lập muộn quá ba tháng kể từ ngày bên nộp đơn yêu cầu nhận được phán quyết hoặc nếu đơn yêu cầu được tiến hành theo Điều 33 thì tính từ ngày mà yêu cầu đó được ủy ban trọng tài giải quyết.

4. Toà án khi được yêu cầu hủy bỏ phán quyết, có thể, nếu thấy thích hợp và theo yêu cầu của một bên, đình chỉ trình tự hủy bỏ phán quyết trong một thời gian do toà án quyết định để ủy ban trọng tài có cơ hội tiếp tục tiến hành tố tụng trọng tài hoặc tiến hành các hoạt động khác theo ý kiến cuả ủy ban trọng tài sẽ loại trừ cơ sở để hủy bỏ phán quyết. 

CHƯƠNG VIII

CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH 

Điều 35: CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH.

1. Phán quyết của trọng tài, bất kể được tuyên ở đâu, sẽ được công nhận có tính ràng buộc và khi có đơn yêu cầu được lập thành văn bản gửi đến toà án có thẩm quyền, sẽ được thi hành theo những qui định tại Điều này và Điều 36.

2. Bên dựa vào phán quyết hay yêu cầu thi hành phán quyết sẽ cung cấp bản gốc hay một bản sao của phán quyết đã được chứng thực hợp lệ cùng với bản gốc của thoả thuận trọng tài theo qui định tại Điều 7 hoặc một bản sao của thoả thuận này đã được chứng thực hợp lệ. Nếu phán quyết hay thoả thuận trọng tài không được lập bằng ngôn ngữ chính thức của quốc gia nơi thi hành phán quyết, bên yêu cầu thi hành sẽ phải cung cấp một bản dịch sang ngôn ngữ đó và phải được chứng thực hợp lệ. 

Điều 36: CÁC TRƯỜNG HỢP TỪ CHỐI VIỆC CÔNG NHẬN HOẶC THI HÀNH.

1. Việc công nhận hay thi hành phán quyết trọng tài, bất kể phán quyết này được tuyên ở nước nào, chỉ có thể bị từ chối trong trường hợp:

(a) Theo yêu cầu của bên phải thi hành, nếu bên đó cung cấp được cho toà án có thẩm quyền nơi công nhận hay thi hành phán quyết bằng chứng khẳng định rằng:

        i.  Bên tham gia thoả thuận trọng tài theo qui định tại Điều 7 không đủ năng lực ký kết thoả thuận đó; hoặc thoả thuận nói trên không có giá trị pháp lý theo luật mà các bên đã chọn để áp dụng hoặc theo luật của nước nơi phán quyết được tuyên trong trường hợp không ghi rõ; hoặc.

       ii.  Bên phải thi hành phán quyết không được thông báo một cách hợp thức về việc chỉ định trọng tài viên hoặc về các thủ tục giải quyết vụ tranh chấp tại trọng tài hoặc ( vì những nguyên nhân chính đáng khác mà) không thể thực hiện được việc tranh tụng của mình; hoặc

      iii.  Phán quyết được tuyên về một vụ tranh chấp không được qui định hoặc không nằm trong phạm vi các Điều khoản của thoả thuận trọng tài, hoặc phán quyết này chứa đựng những quyết định về các vấn đề vượt quá phạm vi giải quyết nêu ra trong thoả thuận trọng tài; trong trường hợp có thể tách phần quyết định về vấn đề đã được yêu cầu giải quyết tại trọng tài với phần không được quyết định về những vấn đề không được yêu cầu giải quyết tại trọng tài, thì phần phán quyết có những quyết định về vấn đề được yêu cầu giải quyết có thể được công nhận và cho thi hành; hoặc

      iv.   Thành phần của ủy ban trọng tài hoặc thủ tục giải quyết tranh chấp của trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên hoặc trong trường hợp không có thỏa thuận đó không phù hợp với luật của nước nơi tiến hành xét xử trọng tài; hoặc

       v.  Phán quyết của trọng tài chưa có hiệu lực ràng buộc với các bên hoặc phán quyết đó bị hủy bỏ hoặc đình chỉ bởi toà án của nước nơi phán quyết được tuyên hoặc theo luật của nước nơi phán quyết được lập.

(b) Nếu Toà án thấy rằng:

       i.  Theo luật của quốc gia này, nội dung tranh chấp không thể giải quyết qua thể thức trọng tài; hoặc

      ii.  Việc công nhận và cho thi hành phán quyết đó sẽ trái với chính sách công của quốc gia này.  

2. Trường hợp đơn yêu cầu hủy bỏ hay đình chỉ thi hành phán quyết được gửi đến toà án theo như qui định tại đoạn (1) (a) (v) của Điều khoản này, thì toà án nơi được yêu cầu công nhận và thi hành phán quyết nếu thấy yêu cầu này hợp lệ, sẽ tạm hoãn quyết định cho thi hành của mình và cũng có thể, trên cơ sở có đơn yêu cầu của bên đòi công nhận hoặc thi hành phán quyết ra lệnh cho bên kia đưa ra một sự bảo đảm thích hợp.

Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn về trọng tài thương mại quốc tế

Nội dung của nó không phải là lời khuyên pháp lý và không nên được coi là lời khuyên chi tiết trong các trường hợp riêng lẻ. Để được tư vấn trọng tài thương mại quốc tế vui lòng liên hệ:

CÔNG TY LUẬT TNHH UNILAW
00
Facebook: Nguyen Nhu Hai
Đọc tiếp
07 Tháng Mười Hai 2022
error: Content is protected !!