Chuyển đến nội dung chính

MARITIME · INSURANCE · INVESTMENT LAW IN VIETNAM

MARITIME • INSURANCE • INVESTMENT

Bản án · 10.09.2026

Ly hôn, quyền nuôi con và cấp dưỡng: Tòa quyết định dựa vào đâu

Ly hôn, quyền nuôi con và cấp dưỡng: Tòa quyết định dựa vào đâu Trong các vụ ly hôn, việc chấm dứt hôn nhân thường là phần dễ nhất. Phần khó nằm ở đứa trẻ: ai được trực tiếp nuôi, người kia cấp dưỡng bao nhiêu, và sau này có đổi được không. Bài này tổng hợp cách Tòa xử ba nhóm vi…

Luật sư UnilawThời gian đọc: 13 phút

Ly hôn, quyền nuôi con và cấp dưỡng: Tòa quyết định dựa vào đâu

Trong các vụ ly hôn, việc chấm dứt hôn nhân thường là phần dễ nhất. Phần khó nằm ở đứa trẻ: ai được trực tiếp nuôi, người kia cấp dưỡng bao nhiêu, và sau này có đổi được không.

Bài này tổng hợp cách Tòa xử ba nhóm việc ấy, dựa trên các bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm và phúc thẩm.

Ba loại việc, ba thủ tục khác nhau

  • Thuận tình ly hôn — cả hai đồng ý và thỏa thuận được về con, tài sản. Tòa ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự, không mở phiên tòa xét xử.
  • Ly hôn theo yêu cầu của một bên — một người xin ly hôn, người kia không đồng ý hoặc không hợp tác. Đây là vụ án, có xét xử, có bản án, có quyền kháng cáo.
  • Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — một vụ án riêng, mở sau khi đã ly hôn, thuộc khoản 3 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điều đáng nhớ: thuận tình ly hôn mà không yêu cầu chia tài sản thì vẫn kiện chia tài sản sau này được. Trong Bản án số 42A/2019/HNGĐ-ST (Đà Nẵng), hai người thuận tình ly hôn theo quyết định tháng 02/2019 và khi đó không yêu cầu giải quyết tài sản chung; sau đó người vợ khởi kiện chia tài sản, yêu cầu được thụ lý bình thường.

Ai được trực tiếp nuôi con

Con từ đủ 7 tuổi: phải hỏi nguyện vọng của cháu

Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 buộc Tòa xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên. Đây không phải thủ tục hình thức. Trong Bản án số 311/2024/HNGĐ-ST (Ba Đình, Hà Nội), Tòa ghi rõ trong phần tố tụng rằng đã tiến hành ghi ý kiến nguyện vọng của cháu theo đúng khoản 2 Điều 81, bên cạnh việc tống đạt thông báo thụ lý, mở phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải không thành.

Thiếu bước lấy ý kiến của con là một thiếu sót tố tụng có thể dẫn đến hủy án.

Tòa xác minh thực tế, không chỉ nghe lời khai

Bản án số 14/2024/HNGĐ-PT (Đắk Lắk) là ví dụ rõ nhất. Người cha kháng cáo, không đồng ý thay đổi người trực tiếp nuôi cháu bé sinh năm 2014. Tòa không dừng ở lời trình bày của các bên mà đi xác minh ba nơi:

  • Hồ sơ vụ án cho thấy cháu đang sống với ông bà nội, và chính ông bà nội là người trực tiếp nuôi dưỡng.
  • Công an xã và thôn xác nhận người cha hiện đăng ký tạm trú và sinh sống cùng một người phụ nữ khác, ở một xã khác.
  • Trường tiểu học nơi cháu đang học — xác minh về việc học và người đưa đón.

Bài học: người muốn giành hoặc giữ quyền nuôi con nên chuẩn bị chứng cứ về thực tế nuôi dưỡng: xác nhận của nhà trường, của tổ dân phố, sổ khám sức khỏe, ảnh sinh hoạt hằng ngày — chứ không chỉ chứng minh thu nhập. Và ngược lại, người đang giữ con mà thực tế giao cho ông bà nuôi thì đó là điểm yếu lớn.

Điều kiện kinh tế không phải tất cả

Trong Bản án số 41/2018/HNGĐ-PT (Long An), người cha có việc làm và chỗ ở ổn định, thu nhập bình quân 7.500.000 đồng/tháng, trong khi người mẹ chưa có nhà riêng, đang ở cùng mẹ ruột. Điều đó không đủ để chuyển con cho người cha.

Hai quy tắc cứng ít người biết

Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ

Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ hai trường hợp — người mẹ không đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Đây là quy tắc mặc định, không phải suy đoán. Người cha muốn giành quyền nuôi con dưới ba tuổi phải chứng minh người mẹ không đủ điều kiện — một gánh nặng chứng minh rất nặng.

Căn cứ để Tòa cho ly hôn đơn phương

Khoản 1 Điều 56: khi một bên yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành, Tòa giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Hai trường hợp đặc biệt: vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa giải quyết cho ly hôn (khoản 2); và khi cha, mẹ hoặc người thân thích yêu cầu ly hôn thay cho người bị bệnh tâm thần theo khoản 2 Điều 51, Tòa cho ly hôn nếu có căn cứ về bạo lực gia đình ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia (khoản 3).

Thực tế: “không còn tình cảm” một mình nó không phải căn cứ luật định. Đơn xin ly hôn nên mô tả cụ thể hành vi và hệ quả — sống ly thân từ bao giờ, không còn quan tâm chăm sóc nhau ra sao — để rơi vào nhóm “vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng”.

Hai căn cứ để thay đổi người trực tiếp nuôi con

Khoản 2 Điều 84 chỉ cho phép thay đổi khi có một trong hai căn cứ:

  • Cha mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi, phù hợp với lợi ích của con;
  • Người đang trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Không có căn cứ thứ ba. “Giờ tôi khá giả hơn” không nằm trong hai căn cứ ấy — phải chứng minh bên kia không còn đủ điều kiện.

Khoản 3 nhắc lại: việc thay đổi phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên. Và khoản 4 có một khả năng nhiều người không ngờ: nếu xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con, Tòa quyết định giao con cho người giám hộ theo Bộ luật Dân sự. Khoản 5 còn cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khác quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con vì lợi ích của trẻ.

Chính khoản 4 là bối cảnh của vụ 14/2024/HNGĐ-PT nêu trên: khi Tòa phát hiện cháu bé thực tế do ông bà nội nuôi còn người cha sống nơi khác với người phụ nữ khác, điều kiện nuôi con của người cha bị đặt dấu hỏi.

Cấp dưỡng nuôi con: hai lập luận Tòa bác thẳng

Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Khoản 1 Điều 83: cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ đó.

Vụ 41/2018/HNGĐ-PT cho thấy hai cách né tránh phổ biến và cách Tòa xử lý:

“Nếu cô ấy không nuôi được thì giao con cho tôi”

Người cha kháng cáo với lập luận này thay vì cấp dưỡng. Tòa trả lời gọn: không có cơ sở chấp nhận. Yêu cầu cấp dưỡng và yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con là hai việc khác nhau; không thể lấy việc này để từ chối việc kia. Muốn giành lại quyền nuôi con thì phải khởi kiện một vụ án riêng về thay đổi người trực tiếp nuôi con.

“Cô ấy còn nợ tôi tiền thi hành án”

Tòa nêu rõ: nghĩa vụ thi hành án về tài sản giữa hai người không liên quan gì đến nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo Điều 82. Cấp dưỡng là nghĩa vụ đối với con, không phải một khoản nợ giữa hai vợ chồng cũ để bù trừ.

Bài học: tiền cấp dưỡng không được đem cấn trừ vào bất kỳ khoản nào khác. Ai đang giữ con và bị người kia đề nghị cấn trừ thì cứ yêu cầu thi hành án riêng.

Xác định cha cho con — và xác định không phải cha

Khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự ghi nhận loại việc “tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ”. Điều ít người biết là nó chạy theo cả hai chiều.

Trong Bản án số 767/2019/HNGĐ-ST (TP. Hồ Chí Minh), người mẹ khởi kiện yêu cầu Tòa xác định đứa trẻ không phải là con ruột của người đàn ông đang đứng tên cha trên giấy khai sinh. Tòa thụ lý theo đúng loại việc này, và cả hai bên có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bài học: tên trên giấy khai sinh có thể thay đổi được, nhưng phải qua bản án hoặc quyết định của Tòa. Hồ sơ thường cần kết quả giám định ADN, và Tòa có thể trưng cầu giám định khi các bên không thống nhất.

Khi bị đơn không hợp tác

Đây là lo lắng lớn nhất của người muốn ly hôn đơn phương. Các bản án cho thấy quy trình quen thuộc: Tòa tống đạt thông báo thụ lý và quyết định đưa vụ án ra xét xử; nếu bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Tòa căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt — như trong vụ 42A/2019/HNGĐ-ST.

Không đến Tòa không phải là cách ngăn ly hôn. Nó chỉ khiến người vắng mặt mất quyền trình bày về con và tài sản.

Kháng cáo: được sửa, được rút một phần

Bản án số 846/2019/HNGĐ-PT (một vụ gộp cả ly hôn, tranh chấp nuôi con và chia tài sản chung) minh họa cơ chế kháng cáo:

  • Bản án sơ thẩm tuyên ngày 26/02/2019; người chồng kháng cáo toàn bộ ngày 01/3, người vợ kháng cáo một phần ngày 11/3 — cả hai trong thời hạn 15 ngày theo khoản 1 Điều 273.
  • Ngày 15/5, người chồng nộp đơn kháng cáo bổ sung, sửa đổi nội dung kháng cáo.
  • Tại phiên tòa, người vợ rút lại một phần kháng cáo. Vì việc rút nằm trong phạm vi kháng cáo ban đầu, Tòa chấp nhận theo khoản 3 Điều 298.

Bài học: kháng cáo không phải quyết định một lần là xong. Nếu chưa chắc, kháng cáo toàn bộ bản án trong hạn 15 ngày trước, rồi thu hẹp phạm vi sau — vì mở rộng ra ngoài phạm vi kháng cáo ban đầu thì không được chấp nhận.

Chuẩn bị hồ sơ

  1. Đơn khởi kiện ghi rõ ba yêu cầu tách bạch: ly hôn, người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng, chia tài sản (hoặc ghi rõ chưa yêu cầu chia tài sản).
  2. Giấy chứng nhận kết hôn bản chính; nếu mất thì xin trích lục tại nơi đăng ký.
  3. Giấy khai sinh của con, và giấy tờ về nơi cư trú của cả hai bên.
  4. Chứng cứ về thực tế nuôi dưỡng: xác nhận của nhà trường, tổ dân phố, sổ y bạ, ảnh, tin nhắn.
  5. Chứng cứ về thu nhập của bên phải cấp dưỡng: bảng lương, sao kê, xác nhận nơi làm việc.
  6. Nếu bị đơn không hợp tác, chuẩn bị sẵn thông tin nơi cư trú, nơi làm việc để Tòa tống đạt và xác minh.

Unilaw hỗ trợ

Tư vấn và soạn hồ sơ ly hôn thuận tình hoặc đơn phương; thu thập chứng cứ về điều kiện nuôi con; yêu cầu và bảo vệ mức cấp dưỡng; khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; và các việc về xác định cha, mẹ, con.

Các bản án và quyết định được tổng hợp trong bài

Bài này được xây dựng từ 33 bản án, quyết định về ly hôn, nuôi con và cấp dưỡng do Tòa án công bố. Những vụ được phân tích chi tiết ở trên đã dẫn số hiệu ngay trong từng mục; danh sách đầy đủ như sau:

  • 02/2019/HNGĐ-ST — TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HOÁ BẢN Á
  • 03/2020/HNGĐ-ST — TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
  • 06/2019/HNGĐ-ST — Toà án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội tiến h
  • 07A/2019/HNGĐ-ST — TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
  • 08/2020/HNGĐ-ST — TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • 13/2019/HNGĐ-ST — TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA TỈNH PHÚ YÊN
  • 14/2024/HNGĐ-PT — TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
  • 17/2018/HNGĐ-PT — TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • 21/2019/HNGĐ-ST — TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA BẢN Á
  • 23/2019/HNGĐ-ST — TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH BẢN
  • 29/2019/HNGĐ-ST — Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xét xử sơ thâm công
  • 32/2019/HNGĐ-ST — TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ
  • 35/2019/HNGĐ-PT — TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • 37/2019/HNGĐ-ST — TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH BẮC GIANG
  • 38/2018/HNGĐ — TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, HÀ NỘI
  • 40/2019/HNGĐ-ST — Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm
  • 41/2018/HNGĐ-PT — TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • 43/2024/HNGĐ-ST — TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
  • 45/2019/HNGĐ-ST — TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU
  • 46/2019/HNGĐ-ST — TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, TP ĐÀ NẴNG
  • 49/2019/HNGĐ-ST — TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • 58/2019/HNGĐ-ST — TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU
  • 78/2018/HNGĐ-ST — TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HT, TỈNH TN
  • 126/2019/HNGĐ-ST — TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • 180/2019/HNGĐ-ST — TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
  • 311/2024/HNGĐ-ST — TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH , T H ÀNH PHỐ HÀ NỘI BẢN Á
  • 756/2018/HNGĐ-ST — TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN
  • 767/2019/HNGĐ-ST — TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN
  • 823/2018/HNGĐ-ST — TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BẢ
  • 1127/2019/HNGĐ-ST — TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BẢ
  • 1162/2018/HNGĐ-ST — TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • 1426/2018/HNGĐ-ST — TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • 1485/2018/HNGĐ-ST — TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án, quyết định của Tòa án không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả theo khoản 2 Điều 15 Luật Sở hữu trí tuệ. Tên đương sự trong mọi trích dẫn giữ nguyên dạng viết tắt như bản công bố. Cần toàn văn một bản án cụ thể, anh chị liên hệ Unilaw để được cung cấp.

Đọc thêm

Căn cứ pháp lý: Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (Điều 81, 82, 83); Bộ luật Tố tụng dân sự (khoản 3 và khoản 4 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273, khoản 3 Điều 298). Bản án dẫn chiếu: 846/2019/HNGĐ-PT, 41/2018/HNGĐ-PT, 767/2019/HNGĐ-ST, 42A/2019/HNGĐ-ST, 311/2024/HNGĐ-ST, 14/2024/HNGĐ-PT. Tên đương sự viết tắt theo đúng bản án công bố.

Chuyên mục
error: Content is protected !!
Chat với UniLaw qua Zalo