Các tội xâm phạm sở hữu: trộm cắp, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm, cướp và cưỡng đoạt
Năm tội danh trong bài này chiếm phần lớn án hình sự ở cấp huyện. Chúng khác nhau ở một điểm duy nhất nhưng quyết định tất cả: thời điểm và cách thức chiếm đoạt.
Nhầm tội danh là chuyện thường xuyên xảy ra, và chênh lệch mức án giữa chúng rất lớn — cùng một số tiền, có tội xử vài tháng cải tạo không giam giữ, có tội xử bảy năm tù.
Phân biệt năm tội bằng một câu hỏi
- Trộm cắp tài sản (Điều 173) — lén lút chiếm đoạt, chủ tài sản không biết.
- Cướp tài sản (Điều 168) — dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để chiếm đoạt.
- Cưỡng đoạt tài sản (Điều 170) — đe dọa sẽ dùng vũ lực, hoặc uy hiếp tinh thần để buộc giao tài sản. Khác cướp ở chỗ nạn nhân còn khoảng thời gian để suy nghĩ.
- Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) — dùng thủ đoạn gian dối ngay từ đầu để người khác tự nguyện giao tài sản.
- Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175) — nhận tài sản hợp pháp qua hợp đồng, rồi mới nảy sinh ý định chiếm đoạt: bỏ trốn, dùng vào việc bất hợp pháp, hoặc đến hạn có điều kiện mà cố tình không trả.
Câu hỏi phân biệt then chốt giữa lừa đảo và lạm dụng tín nhiệm: ý định chiếm đoạt có trước hay sau khi nhận tài sản. Đây thường là toàn bộ nội dung tranh luận tại phiên tòa trong các vụ vay mượn, đặt cọc, giao hàng trả chậm.
Khung hình phạt cơ bản của tội trộm cắp
Khoản 1 Điều 173: trộm cắp tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Dưới 2.000.000 đồng vẫn bị truy cứu nếu thuộc một trong các trường hợp: đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội tại Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; hoặc tài sản là di vật, cổ vật.
Khoản 2 nâng lên 02 năm đến 07 năm tù.
Cùng khoản 1 Điều 173, ba mức án khác nhau
- Bản án số 20A/2019/HS-ST: Tòa áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 (tự nguyện bồi thường; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo) và điểm g khoản 1 Điều 52 (phạm tội 02 lần trở lên) — xử phạt 09 tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam.
- Bản án số 28/2019/HS-ST (Tuy Phong, Bình Thuận): hai bị cáo, áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, kèm Điều 58 (quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm) — bị cáo thứ nhất 15 tháng tù; bị cáo thứ hai được thêm điểm i khoản 1 Điều 51 nên nhẹ hơn.
- Bản án số 39/2020/HS-ST (Phú Quốc, Kiên Giang): áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h và g khoản 1 Điều 52 (tái phạm và phạm tội 02 lần trở lên) — 24 tháng tù.
Chín tháng, mười lăm tháng, hai mươi bốn tháng — cùng một khoản luật. Số tình tiết tăng nặng là biến số lớn nhất.
Người mua lại đồ trộm cũng bị truy cứu
Vẫn trong vụ 39/2020/HS-ST, cùng bản án còn một bị cáo thứ hai bị tuyên phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự, xử phạt 18 tháng tù.
Bài học: mua đồ giá rẻ bất thường, không giấy tờ, từ người lạ — không phải chuyện dân sự. Nếu biết hoặc buộc phải biết đó là tài sản do phạm tội mà có, người mua thành bị cáo trong cùng vụ án.
Cưỡng đoạt tài sản: một vụ dàn cảnh
Bản án số 451/2019/HS-PT (TP. Hồ Chí Minh) mô tả một kịch bản đáng đọc. Bốn người bàn nhau tiếp cận một người nước ngoài với lý do nhờ môi giới kết hôn, hẹn gặp tại quán cà phê và yêu cầu ông ký một giấy cam kết. Tại đó, một trong bốn người mặc quần áo cảnh sát cùng hai người khác khống chế ông, đưa lên ô tô chở đi — dàn cảnh bắt quả tang để “phạt tiền”.
Tòa phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về tội cưỡng đoạt tài sản.
Chi tiết tố tụng đáng chú ý: hành vi xảy ra tháng 11/2017, nên tội danh và khung hình phạt áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi 2009, còn tình tiết giảm nhẹ lại áp dụng Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 — nguyên tắc áp dụng điều luật có lợi hơn cho người phạm tội.
Lừa đảo với án treo, cướp tài sản với bảy năm tù
Bản án số 366/2018/HS-PT: Tòa phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, tuyên phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo — nhờ tình tiết tự nguyện bồi thường và thành khẩn khai báo, cộng với việc áp dụng điều khoản cho phép quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định.
Bản án số 80/2019/HS-PT (Bình Phước) đi hướng ngược lại. Bị cáo kêu oan tại phiên tòa phúc thẩm, cho rằng hành vi của mình không phạm tội cướp tài sản — nhưng đồng thời vẫn thừa nhận toàn bộ hành vi như nội dung vụ án đã xác định. Tòa đối chiếu bản tự khai, biên bản và lời khai những người liên quan, không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án: 07 năm tù theo điểm d khoản 2 Điều 168.
Bài học: kêu oan mà vẫn thừa nhận hành vi là mâu thuẫn tự phá hủy. Nếu cho rằng hành vi không cấu thành tội danh bị truy tố, hướng bào chữa phải là chuyển tội danh — chẳng hạn từ cướp sang cưỡng đoạt hoặc công nhiên chiếm đoạt — chứ không phải phủ nhận toàn bộ.
Hủy hoại tài sản trong gia đình
Bản án số 273/2019/HS-ST: bị cáo và vợ phát sinh mâu thuẫn, dẫn đến hành vi hủy hoại tài sản. Tòa áp dụng khoản 1 Điều 178, các tình tiết giảm nhẹ tại điểm i và s khoản 1 cùng khoản 2 Điều 51, và khoản 1, 2, 5 Điều 65 — xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng, giao cho Ủy ban nhân dân phường giám sát, giáo dục.
Trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự
Bản án 55/2019/HS-ST về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản áp dụng đồng thời các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự 2015 — căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường, nguyên tắc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm và thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.
Điều bị hại cần biết: yêu cầu bồi thường được giải quyết ngay trong vụ án hình sự, không phải kiện riêng. Phải nộp đơn yêu cầu bồi thường kèm chứng cứ về thiệt hại trước khi xét xử. Ngược lại, với bị cáo, tự nguyện bồi thường là tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 — và trong nhiều vụ, nó là ranh giới giữa án tù và án treo.
Unilaw hỗ trợ
Bào chữa và tư vấn định tội danh trong nhóm tội xâm phạm sở hữu; xây dựng hồ sơ tình tiết giảm nhẹ và phương án bồi thường; bảo vệ quyền lợi bị hại trong vụ án hình sự; kháng cáo và đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm.
Các bản án và quyết định được tổng hợp trong bài
Bài này được xây dựng từ 15 bản án, quyết định về xâm phạm sở hữu do Tòa án công bố. Những vụ được phân tích chi tiết ở trên đã dẫn số hiệu ngay trong từng mục; danh sách đầy đủ như sau:
- 09/2018/HSST — TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
- 16/2017/HSST — TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG UYÊN, TỈNH CAO BẰNG
- 20A/2019/HSST — Toà án Nhân Dân huyện Th O TP
- 28/2019/HS-ST — TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
- 31/2020/HS-ST — TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG BẢN
- 38/2019/HS-PT — Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước tiến hành xét xử phúc t
- 39/2020/HS-ST — TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUỐC, T ỈNH KIÊN GIANG
- 43/2019/HS-ST — TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- 55/2019/HS-ST — TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG BẢN
- 57/2019/HS-ST — TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN
- 80/2019/HS-PT — TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- 231/2019/HS-PT — TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- 273/2019/HS-ST — TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH Q
- 366/2018/HS-PT — TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- 451/2019/HS-PT — TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BẢN Á
Bản án, quyết định của Tòa án không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả theo khoản 2 Điều 15 Luật Sở hữu trí tuệ. Tên đương sự trong mọi trích dẫn giữ nguyên dạng viết tắt như bản công bố. Cần toàn văn một bản án cụ thể, anh chị liên hệ Unilaw để được cung cấp.
Đọc thêm
- Án treo và tình tiết giảm nhẹ: Tòa cho hưởng án treo khi nào
- Tội ma túy: khung hình phạt mới từ 01/7/2025
- Quyết định giám đốc thẩm: căn cứ, thời hạn, thẩm quyền
Căn cứ pháp lý: Bộ luật Hình sự 2015, bản hợp nhất số 135/VBHN-VPQH ngày 05/9/2025 (Điều 38, 47, 51, 52, 58, 65, 168, 170, 173, 174, 175, 178, 323); Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi 2009 với các hành vi xảy ra trước 01/01/2018; Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 584, 585, 586, 589); Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (Điều 125, 136, 331, 332, 333, 342, 355, 356, 357). Bản án dẫn chiếu: 20A/2019/HS-ST, 28/2019/HS-ST, 39/2020/HS-ST, 55/2019/HS-ST, 451/2019/HS-PT, 366/2018/HS-PT, 80/2019/HS-PT, 273/2019/HS-ST. Mức án trong các bản án cũ được dẫn để minh họa, không phải mức áp dụng hiện hành. Tên bị cáo viết tắt theo đúng bản án công bố.
