Chuyển đến nội dung chính

MARITIME · INSURANCE · INVESTMENT LAW IN VIETNAM

MARITIME • INSURANCE • INVESTMENT

Bản tin pháp lý · 30.10.2022

Giới hạn trách nhiệm theo hợp đồng: Cách đặt liability cap 2026

Giới hạn trách nhiệm theo hợp đồng là thỏa thuận xác định trước mức trách nhiệm tối đa mà một bên phải chịu nếu vi phạm hợp đồng. Điều khoản này đặc biệt quan trọng khi giá trị thiệt hại có thể lớn hơn nhiều lần số tiền mà bên cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ thực tế nhận được từ h…

Luật sư UnilawThời gian đọc: 17 phút
Đỉnh núi phủ tuyết rực rỡ

Giới hạn trách nhiệm theo hợp đồng là thỏa thuận xác định trước mức trách nhiệm tối đa mà một bên phải chịu nếu vi phạm hợp đồng. Điều khoản này đặc biệt quan trọng khi giá trị thiệt hại có thể lớn hơn nhiều lần số tiền mà bên cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ thực tế nhận được từ hợp đồng.

Pháp luật Việt Nam không đặt một mức trần bồi thường chung cho mọi hợp đồng. Bộ luật Dân sự cho phép các bên có thỏa thuận khác về trách nhiệm bồi thường, nhưng quyền thỏa thuận không phải là tuyệt đối. Luật chuyên ngành, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng hoặc chính bản chất của một loại trách nhiệm có thể hạn chế khả năng loại trừ hoặc giới hạn trách nhiệm.

Hiểu nhanh:
Không có liability cap → trách nhiệm được xác định theo hợp đồng và pháp luật.
Có liability cap hợp lệ → số tiền phải chịu có thể bị giới hạn theo thỏa thuận.
Nhưng trước khi áp dụng cap vẫn phải xác định có phát sinh trách nhiệm hay không.
Phạt vi phạm 8% trong hợp đồng thương mại không phải là trần bồi thường thiệt hại.

Giới hạn trách nhiệm theo hợp đồng là gì?

Giới hạn trách nhiệm theo hợp đồng (limitation of liability) là cơ chế các bên dùng để phân bổ trước rủi ro nếu hợp đồng bị vi phạm.

Ví dụ:

“Trừ các trường hợp quy định khác tại Hợp đồng này, tổng trách nhiệm của Bên B phát sinh từ hoặc liên quan đến Hợp đồng không vượt quá 100% tổng phí dịch vụ mà Bên A đã thanh toán cho Bên B.”

Hoặc:

“Tổng trách nhiệm bồi thường của Nhà cung cấp không vượt quá hai lần giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm.”

Điều khoản như vậy nhằm trả lời trước câu hỏi: nếu có vi phạm và trách nhiệm thực sự phát sinh, mức rủi ro tài chính tối đa của một bên là bao nhiêu?

Pháp luật hiện hành nào điều chỉnh giới hạn trách nhiệm theo hợp đồng?

Đến tháng 9/2026, khi soạn điều khoản giới hạn trách nhiệm cần đọc ít nhất các văn bản sau:

  • Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 — đặc biệt Điều 360, Điều 361 và Điều 419 về trách nhiệm bồi thường và thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
  • Luật Thương mại số 36/2005/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung — hiện có thể tham chiếu Văn bản hợp nhất số 113/VBHN-VPQH ngày 27/8/2025; đặc biệt các Điều 294, 300–305 và Điều 238 đối với logistics.
  • Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hiện hành — tham chiếu Văn bản hợp nhất số 47/VBHN-VPQH ngày 17/3/2026, đặc biệt Điều 25 về những điều khoản không được phép đưa vào hợp đồng với người tiêu dùng.
  • Nghị định 163/2017/NĐ-CP về kinh doanh dịch vụ logistics — có cơ chế giới hạn trách nhiệm riêng tại Điều 5.

Cần lưu ý: trong năm 2026 đang có quá trình tiếp tục xem xét sửa đổi Luật Thương mại. Tuy nhiên, dự thảo luật chưa có hiệu lực thì không được sử dụng như pháp luật hiện hành. Khi áp dụng thực tế phải kiểm tra văn bản có hiệu lực tại thời điểm giao kết hoặc phát sinh tranh chấp.

Nếu không có giới hạn trách nhiệm thì phải bồi thường thế nào?

Điều 360 Bộ luật Dân sự 2015 xác lập nguyên tắc: khi có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra, bên vi phạm phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Điều 419 quy định riêng thiệt hại do vi phạm hợp đồng. Bên có quyền có thể yêu cầu:

  • lợi ích mà lẽ ra mình được hưởng nếu hợp đồng được thực hiện;
  • chi phí phát sinh do bên kia không hoàn thành nghĩa vụ, nếu khoản này không bị tính trùng;
  • trong trường hợp phù hợp, thiệt hại tinh thần theo quyết định của Tòa án.

Đối với hoạt động thương mại, Luật Thương mại hiện hành quy định chặt hơn tại Điều 302–305.

Giá trị bồi thường gồm:

  • tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu; và
  • khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.

Muốn được bồi thường, bên yêu cầu còn phải chứng minh:

  • có hành vi vi phạm hợp đồng;
  • có thiệt hại thực tế;
  • vi phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại;
  • mức độ tổn thất và khoản lợi trực tiếp bị mất.

Điều 305 còn buộc bên bị vi phạm phải áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất. Nếu không làm, phần thiệt hại đáng lẽ có thể tránh được có thể bị giảm khỏi số tiền bồi thường.

Tại sao doanh nghiệp cần giới hạn trách nhiệm theo hợp đồng?

Giả sử một nhà cung cấp thực hiện một công việc trị giá 500 triệu đồng nhưng công việc đó nằm trong dự án trị giá 500 tỷ đồng.

Một lỗi của nhà cung cấp có thể làm dự án chậm hai tháng. Chủ đầu tư cho rằng mình mất hàng chục tỷ đồng doanh thu và lợi nhuận.

Nếu hợp đồng không phân bổ rủi ro rõ ràng, nhà cung cấp có thể phải đối mặt với yêu cầu bồi thường lớn gấp nhiều lần giá trị kinh tế mà mình nhận được từ hợp đồng.

Đó là lý do các hợp đồng B2B thường sử dụng:

  • trần trách nhiệm tổng thể;
  • trần riêng cho từng nhóm vi phạm;
  • loại trừ một số loại thiệt hại;
  • carve-out — các trường hợp nằm ngoài giới hạn;
  • phạt vi phạm;
  • bảo hiểm trách nhiệm;
  • nghĩa vụ hạn chế thiệt hại.

Các bên có được tự thỏa thuận liability cap không?

Trong quan hệ hợp đồng bình đẳng, đặc biệt là B2B, pháp luật dân sự cho phép các bên thỏa thuận khác với nguyên tắc bồi thường toàn bộ, miễn thỏa thuận đó không vi phạm quy định bắt buộc của pháp luật.

Vì vậy, các bên có thể cân nhắc:

  • cap bằng 100% giá trị hợp đồng;
  • cap bằng 150% hoặc 200% giá trị hợp đồng;
  • cap bằng phí đã thanh toán trong 6 hoặc 12 tháng;
  • một số tiền tuyệt đối, ví dụ 5 tỷ đồng;
  • một cap chung và một số “super cap” cho rủi ro đặc biệt.

Tuy nhiên, không nên kết luận rằng cứ có một câu giới hạn trách nhiệm trong hợp đồng thì Tòa án chắc chắn áp dụng trong mọi trường hợp. Cần kiểm tra luật chuyên ngành, tính chất chủ thể và chính nội dung điều khoản.

Giới hạn trách nhiệm khác gì phạt vi phạm?

Đây là điểm rất thường bị nhầm.

Giới hạn trách nhiệm Đặt mức tối đa của trách nhiệm mà một bên phải chịu theo phạm vi các bên đã thỏa thuận.
Bồi thường thiệt hại Bù đắp tổn thất đáp ứng các điều kiện pháp luật về phát sinh trách nhiệm và chứng minh thiệt hại.
Phạt vi phạm Khoản tiền phạt do các bên thỏa thuận khi xảy ra vi phạm. Với hợp đồng thương mại, Điều 301 Luật Thương mại hiện hành quy định mức phạt thông thường không vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm, trừ trường hợp luật quy định khác.

Do đó, câu:

“Luật Thương mại giới hạn trách nhiệm của bên vi phạm ở mức 8%”

sai.

8% là trần của phạt vi phạm thương mại trong trường hợp Điều 301 áp dụng, không phải trần chung của khoản bồi thường thiệt hại.

Liability cap có bao gồm tiền phạt vi phạm không?

Không nên để vấn đề này cho Tòa án hoặc trọng tài tự suy đoán.

Ví dụ, hợp đồng quy định:

  • phạt 8% phần nghĩa vụ bị vi phạm;
  • bồi thường toàn bộ thiệt hại;
  • tổng liability của Nhà cung cấp không vượt quá 100% giá trị hợp đồng.

Cần viết rõ:

Khoản phạt vi phạm có nằm trong 100% cap hay nằm ngoài cap?

Tương tự cần xác định:

  • lãi chậm trả có nằm trong cap không;
  • chi phí luật sư có nằm trong cap không;
  • nghĩa vụ indemnity với bên thứ ba có nằm trong cap không;
  • nghĩa vụ hoàn trả tiền đã nhận có phải “liability” để tính vào cap không.

Cap theo từng sự kiện hay tổng toàn bộ hợp đồng?

Hai câu sau cho kết quả rất khác nhau:

“Trách nhiệm tối đa cho mỗi khiếu nại là 5 tỷ đồng.”

và:

“Tổng trách nhiệm cộng dồn của Bên B phát sinh từ toàn bộ Hợp đồng không vượt quá 5 tỷ đồng.”

Nếu có 10 vụ vi phạm, câu thứ nhất về lý thuyết có thể dẫn đến 50 tỷ đồng trách nhiệm. Câu thứ hai đặt trần tổng ở 5 tỷ đồng.

Do đó nên dùng các từ rõ như:

  • per claim — từng yêu cầu;
  • per event — từng sự kiện;
  • aggregate — tổng cộng toàn bộ.

Những trách nhiệm nào thường được đưa ra ngoài cap?

Tùy loại giao dịch, các bên có thể thỏa thuận những carve-out như:

  • gian lận;
  • hành vi cố ý;
  • vi phạm nghĩa vụ bảo mật;
  • xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;
  • vi phạm bảo vệ dữ liệu cá nhân;
  • nghĩa vụ thanh toán tiền đến hạn;
  • thiệt hại về tính mạng hoặc sức khỏe;
  • trách nhiệm mà pháp luật không cho phép hạn chế hoặc loại trừ.

Không nên sao chép danh sách carve-out từ hợp đồng nước ngoài mà không phân tích giao dịch. Một hợp đồng SaaS, hợp đồng xây dựng, logistics và hợp đồng phân phối có cấu trúc rủi ro hoàn toàn khác nhau.

Hợp đồng với người tiêu dùng: không được tùy ý loại trừ trách nhiệm

Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý trong năm 2026.

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hiện hành — tham chiếu Văn bản hợp nhất số 47/VBHN-VPQH ngày 17/3/2026 — quy định tại Điều 25 rằng hợp đồng với người tiêu dùng, hợp đồng theo mẫu hoặc điều kiện giao dịch chung không được có điều khoản:

hạn chế hoặc loại trừ trách nhiệm mà pháp luật đã quy định cho tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với người tiêu dùng, trừ trường hợp pháp luật liên quan cho phép.

Vì vậy một liability cap dùng được trong hợp đồng B2B không nên mặc nhiên copy sang hợp đồng B2C.

Có thể loại trừ mất lợi nhuận và “consequential loss” không?

Đây là điều khoản rất phổ biến trong hợp đồng quốc tế.

Nhưng khi hợp đồng áp dụng pháp luật Việt Nam cần cẩn thận với các khái niệm:

  • indirect loss;
  • consequential loss;
  • special damages;
  • loss of profit;
  • loss of revenue;
  • loss of opportunity.

Luật Thương mại hiện hành lại sử dụng khái niệm tổn thất thực tế, trực tiếpkhoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng.

Vì thế một câu dịch máy kiểu:

“Không bên nào chịu trách nhiệm cho bất kỳ consequential damages nào.”

có thể vẫn tạo tranh luận khi áp dụng tại Việt Nam.

Cách an toàn hơn là định nghĩa hoặc liệt kê cụ thể:

  • mất lợi nhuận;
  • mất doanh thu;
  • mất cơ hội kinh doanh;
  • mất dữ liệu;
  • chi phí gián đoạn hoạt động;
  • thiệt hại phát sinh từ yêu cầu của bên thứ ba.

Luật chuyên ngành có thể tự đặt giới hạn trách nhiệm

Không phải liability cap nào cũng do hợp đồng tạo ra. Một số lĩnh vực pháp luật tự thiết kế giới hạn trách nhiệm.

Ví dụ rõ nhất là dịch vụ logistics.

Điều 238 Luật Thương mại hiện hành quy định cơ chế giới hạn trách nhiệm riêng cho thương nhân logistics.

Nghị định 163/2017/NĐ-CP tiếp tục quy định tại Điều 5:

  • nếu pháp luật liên quan đã có giới hạn → áp dụng giới hạn của pháp luật đó;
  • nếu pháp luật liên quan không quy định → các bên được thỏa thuận;
  • nếu không có thỏa thuận và khách hàng không thông báo trước giá trị hàng hóa → giới hạn tối đa là 500 triệu đồng cho mỗi yêu cầu bồi thường;
  • nếu khách hàng đã thông báo giá trị hàng hóa và thương nhân logistics xác nhận → giới hạn không vượt quá giá trị hàng hóa đó.

Điều này cho thấy trước khi soạn liability cap cần hỏi trước:

Luật chuyên ngành đã đặt sẵn một giới hạn hay chưa?

Một bản án thực tế: hàng hóa cháy hơn 7,1 tỷ đồng nhưng yêu cầu chỉ còn 500 triệu

Bản án 1216/2017/KDTM-PT ngày 27/12/2017 của TAND TP.HCM là một ví dụ rất đáng chú ý về cách giới hạn trách nhiệm xuất hiện trong một tranh chấp thực tế.

Một công ty gửi hóa chất, phụ gia thực phẩm và hạt nhựa trong kho của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ. Ngày 28/11/2012, kho xảy ra cháy và toàn bộ hàng hóa bị hư hỏng.

Giá trị thiệt hại được bên có hàng thống kê là khoảng 7,104 tỷ đồng.

Doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi thường cho khách hàng và sau đó thế quyền yêu cầu bên kho hoàn trả. Trong quá trình xét xử, yêu cầu được điều chỉnh xuống còn 500 triệu đồng, căn cứ cơ chế giới hạn trách nhiệm logistics áp dụng tại thời điểm vụ việc xảy ra.

Tuy nhiên, Tòa án vẫn không buộc doanh nghiệp kho phải bồi thường 500 triệu đồng.

Lý do quan trọng là cơ quan điều tra xác định vụ cháy xuất phát từ sự cố điện, không do lỗi của doanh nghiệp kho; doanh nghiệp đã thực hiện các yêu cầu phòng cháy chữa cháy. Hợp đồng giữa các bên còn quy định thiệt hại do bất khả kháng thì tài sản của bên nào bên đó chịu.

Tòa giữ nguyên quyết định không chấp nhận yêu cầu bồi thường.

Bài học từ vụ án:
Đừng bắt đầu bằng câu hỏi “cap là bao nhiêu?”.
Thứ tự đúng phải là:
Có vi phạm/trách nhiệm không? → Có trường hợp miễn trách nhiệm không? → Thiệt hại nào được chứng minh? → Sau đó mới xác định giới hạn trách nhiệm.

Lưu ý: vụ án xảy ra trước khi Nghị định 163/2017/NĐ-CP có hiệu lực nên Tòa viện cơ chế pháp luật logistics tại thời điểm đó. Đối với giao dịch hiện nay phải áp dụng pháp luật đang có hiệu lực, trong đó có Nghị định 163/2017/NĐ-CP.

5 lỗi thường gặp khi viết giới hạn trách nhiệm theo hợp đồng

1. Chỉ ghi “không vượt quá giá trị hợp đồng”

Câu này chưa đủ rõ.

Giá trị hợp đồng là:

  • giá trị ban đầu?
  • giá trị sau phụ lục?
  • giá trị đã thanh toán?
  • giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm?

2. Không nói cap có bao gồm phạt hay không

Đây là nguyên nhân rất dễ gây tranh chấp khi vừa có phạt vi phạm vừa có bồi thường.

3. Không nói cap là từng sự kiện hay tổng cộng

“100% per claim” khác rất xa “100% aggregate”.

4. Không có carve-out

Một cap chung cho cả vi phạm thông thường, gian lận, bảo mật và xâm phạm sở hữu trí tuệ hiếm khi phản ánh đúng rủi ro thực tế.

5. Copy điều khoản nước ngoài nguyên văn

Các khái niệm common law như “consequential damages” hoặc “indemnity” không nên được đưa nguyên xi vào hợp đồng áp dụng luật Việt Nam mà không xác định hậu quả pháp lý cụ thể.

Mẫu điều khoản giới hạn trách nhiệm tham khảo

ĐIỀU … GIỚI HẠN TRÁCH NHIỆM

1. Trừ các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này và trong phạm vi pháp luật cho phép, tổng trách nhiệm cộng dồn của Bên B phát sinh từ hoặc liên quan đến Hợp đồng này, bất kể căn cứ trách nhiệm, không vượt quá [100%] tổng giá trị [phí thực tế đã thanh toán/phải thanh toán/giá trị Hợp đồng].

2. Giới hạn tại khoản 1 là giới hạn tổng cộng đối với toàn bộ khiếu nại phát sinh từ Hợp đồng và không phải là giới hạn riêng cho từng vi phạm, trừ khi các bên có thỏa thuận khác bằng văn bản.

3. Trong phạm vi pháp luật cho phép, Bên B không chịu trách nhiệm đối với các khoản sau: [liệt kê cụ thể các loại thiệt hại mà các bên thống nhất loại trừ].

4. Giới hạn trách nhiệm tại khoản 1 không áp dụng đối với:

(a) hành vi gian lận hoặc cố ý;
(b) [vi phạm nghĩa vụ bảo mật];
(c) [xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ];
(d) [nghĩa vụ thanh toán đã đến hạn];
(e) các trách nhiệm mà pháp luật không cho phép giới hạn hoặc loại trừ.

5. Các bên thống nhất rằng [phạt vi phạm/lãi chậm trả/chi phí bên thứ ba…] [được/không được] tính vào giới hạn trách nhiệm tại khoản 1.

Đây chỉ là cấu trúc tham khảo. Không nên sử dụng nguyên mẫu cho mọi hợp đồng mà không xác định luật áp dụng và loại rủi ro của giao dịch.

Checklist khi đàm phán liability cap

  • Cap bao nhiêu? 100%, 200%, phí 12 tháng hay số tiền cố định?
  • Cap dựa trên giá trị nào?
  • Per claim hay aggregate?
  • Phạt vi phạm nằm trong hay ngoài cap?
  • Lãi chậm thanh toán nằm trong hay ngoài cap?
  • Indemnity của bên thứ ba nằm trong hay ngoài?
  • Mất lợi nhuận có bị loại trừ không?
  • Carve-out gồm những trường hợp nào?
  • Có luật chuyên ngành điều chỉnh không?
  • Đây là B2B hay hợp đồng với người tiêu dùng?
  • Mức bảo hiểm trách nhiệm có tương ứng với cap không?

Câu hỏi thường gặp về giới hạn trách nhiệm theo hợp đồng

Có thể thỏa thuận trách nhiệm tối đa bằng 100% giá trị hợp đồng không?

Trong nhiều giao dịch B2B, các bên có thể thỏa thuận về mức và phạm vi trách nhiệm trên cơ sở quyền tự do thỏa thuận và Điều 360 Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên phải kiểm tra quy định bắt buộc và luật chuyên ngành áp dụng cho giao dịch đó.

Phạt vi phạm 8% có phải là trần bồi thường không?

Không. Điều 301 Luật Thương mại hiện hành quy định về mức phạt vi phạm. Bồi thường thiệt hại được điều chỉnh riêng tại Điều 302–305.

Có thể vừa phạt vi phạm vừa yêu cầu bồi thường không?

Trong quan hệ thương mại, cần đọc Điều 307 Luật Thương mại và chính thỏa thuận trong hợp đồng để xác định quan hệ giữa hai chế tài. Khi soạn liability cap nên ghi rõ khoản phạt có được tính vào cap hay không.

Có thể loại trừ hoàn toàn mất lợi nhuận không?

Có thể có thỏa thuận phân bổ rủi ro trong giao dịch phù hợp, nhưng cần viết rõ phạm vi muốn loại trừ và kiểm tra các quy định bắt buộc. Không nên chỉ ghi một thuật ngữ tiếng Anh mơ hồ rồi giả định rằng mọi khoản mất lợi nhuận đều bị loại bỏ.

Liability cap có áp dụng cho hợp đồng với người tiêu dùng không?

Không được áp dụng máy móc. Điều 25 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hiện hành cấm hạn chế hoặc loại trừ trách nhiệm pháp luật quy định cho tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với người tiêu dùng, trừ trường hợp luật liên quan cho phép.

Nếu có sự kiện bất khả kháng thì vẫn phải dùng cap à?

Trước hết phải xác định có phát sinh trách nhiệm hay đã thuộc trường hợp miễn trách nhiệm. Nếu không có trách nhiệm phải bồi thường thì không cần dùng cap để “giảm” một trách nhiệm vốn không phát sinh. Bản án 1216/2017/KDTM-PT là ví dụ điển hình.

Đọc tiếp trong cụm Luật hợp đồng

Giới hạn trách nhiệm cần được đọc cùng các điều khoản về thực hiện, chấm dứt và giải quyết tranh chấp:

Chuyên mục:
Hiệu lực và vô hiệu hợp đồng ·
Luật hợp đồng ·
Tư vấn & Dịch vụ luật sư hợp đồng

Hỗ trợ rà soát giới hạn trách nhiệm trong hợp đồng

Một liability cap không nên được rà soát riêng lẻ. Nó phải được đọc cùng điều khoản phạt vi phạm, bồi thường, indemnity, bảo hiểm, bảo mật, sở hữu trí tuệ, dữ liệu, bất khả kháng và chấm dứt hợp đồng.

Thông tin về Công ty Luật TNHH UniLaw, dịch vụ pháp lý, hệ thống văn phòng UniLawluật sư UniLaw được trình bày tại các trang chuyên biệt.

Luật sư phụ trách: Nguyễn Như Hải.

Đang đàm phán điều khoản giới hạn trách nhiệm? Đừng chỉ thương lượng con số cap. Cần xác định cap bao gồm khoản nào, trường hợp nào nằm ngoài cap và luật chuyên ngành có đặt giới hạn riêng hay không. Xem luật sư hợp đồng hoặc gọi 0912266811.

“`

error: Content is protected !!
Chat với UniLaw qua Zalo