Cha mẹ mất từ những năm 1980, đến nay con cháu mới kiện chia đất. Câu hỏi đầu tiên luôn là thời hiệu chia thừa kế trước năm 1990 tính thế nào? Theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao (Giải đáp 01/2018/GĐ-TANDTC, điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015), thừa kế mở trước ngày 10/9/1990 thì thời hiệu 30 năm với bất động sản được tính từ ngày 10/9/1990. Bài này phân tích 2 bản án của Tòa án nhân dân cấp cao, cả hai đều hủy án sơ thẩm vì cấp dưới xử lý sai thời hiệu.
Thời hiệu chia thừa kế trước năm 1990: Tòa xử thế nào trong 2 vụ này
Bản án 102/2019/DS-PT ngày 10/04/2019 – TAND cấp cao
Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định hủy toàn bộ bản án sơ thẩm trong vụ án tranh chấp thừa kế. Nguyên nhân là do Tòa án cấp sơ thẩm xác định sai thời hiệu khởi kiện và chưa thu thập đầy đủ chứng cứ cần thiết tại cấp sơ thẩm.
📄 Xem tóm tắt đầy đủ Bản án 102/2019/DS-PT ngày 10/04/2019 tại case.unilaw.vn.
Vấn đề Toà phải giải quyết
- Kháng cáo quá hạn của đại diện nguyên đơn có đủ điều kiện để được chấp nhận hay không?
- Tòa án cấp sơ thẩm xác định thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế có đúng quy định pháp luật hay không?
- Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập đầy đủ chứng cứ và xác định đúng các tình tiết của vụ án hay chưa?
Tòa nhận định
- [2] Về việc xác định người để lại di sản, bản án sơ thẩm xác định tên chồng bà T là Lê Ngọc Ch, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm các bên đều cho rằng cha có tên là Nguyễn Ngọc Ch cần phải được làm rõ.
- [2] Về việc định giá tài sản, giá trị đất tranh chấp đã có biến động trượt giá gần 2 năm kể từ ngày 01/6/2017 đến nay cần phải được định giá lại để đảm bảo quyền lợi.
- [2] Do Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ và áp dụng pháp luật không đúng mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung, căn cứ khoản 3 Điều 308 và khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cần hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Trích nguyên văn
[2] "Như vậy, đối với di sản của ông Ch chết vào ngày 01/6/1980, thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế của ông Ch là 30 năm tính từ ngày 10/9/1990 thì vẫn còn thời hiệu."
Điều luật áp dụng
Luật nội dung
- khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015
Điểm đáng chú ý
Tòa án cấp sơ thẩm cần lưu ý áp dụng chính xác quy định về thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế đối với các trường hợp mở thừa kế trước ngày 10/9/1990 theo hướng dẫn tại Công văn số 01/2018/GĐ-TANDTC và điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015. Việc xác định nhân thân người để lại di sản và biến động giá trị tài sản qua thời gian là những yếu tố quan trọng cần được thu thập chứng cứ đầy đủ trước khi giải quyết vụ án tranh chấp tài sản thừa kế.
Bản án tương tự: Tòa xử thế nào?
Các Tòa án thường xem xét thời hiệu chia di sản thừa kế đối với bất động sản có thời điểm mở thừa kế trước ngày 10/9/1990 dựa trên các quy định pháp luật chuyên ngành và văn bản hướng dẫn nghiệp vụ. Trường hợp cấp sơ thẩm vi phạm về thủ tục hoặc thiếu chứng cứ, tòa phúc thẩm có thể hủy án để giải quyết lại.
- Bản án 55/2025/DS-PT ngày 11/02/2025 – TAND cấp cao — Xác định thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế tính từ ngày 10/9/1990.
- Bản án 145/2021/DS-PT ngày 08/06/2021 – TAND cấp cao — Xác định thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế bất động sản tính từ ngày 10/9/1990.
- Bản án 161/2025 ngày 26/12/2025 – Toà Phúc thẩm TANDTC tại Đà Nẵng — Xác định thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế tính từ ngày 10/9/1990 và ghi nhận việc đương sự không yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi sơ thẩm ra bản án.
Hỏi – đáp
Thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế bất động sản mở trước năm 1990 tính từ khi nào?
Trong vụ này, Toà xác định đối với trường hợp mở thừa kế trước ngày 10/9/1990, thời hiệu khởi kiện chia di sản là bất động sản được tính từ ngày 10/9/1990 theo quy định pháp luật.
Tòa án cấp phúc thẩm xử lý thế nào khi cấp sơ thẩm áp dụng sai thời hiệu và thiếu chứng cứ?
Trong vụ này, Toà xác định Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng không đúng thời hiệu thừa kế và chưa thực hiện đầy đủ việc thu thập chứng cứ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được, nên đã hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Kháng cáo quá hạn không có lý do trở ngại khách quan có được chấp nhận không?
Trong vụ này, Toà xác định đương sự không thuộc trường hợp kháng cáo quá hạn do trở ngại khách quan nên không chấp nhận kháng cáo quá hạn.
Bản án 120/2018/DS-PT ngày 20/08/2018 – TAND cấp cao
Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, quyết định hủy bản án sơ thẩm. Nguyên nhân do cấp sơ thẩm có nhiều vi phạm nghiêm trọng về tố tụng và chưa điều tra làm rõ nguồn gốc tài sản tranh chấp.
📄 Xem tóm tắt đầy đủ Bản án 120/2018/DS-PT ngày 20/08/2018 tại case.unilaw.vn.
Vấn đề Toà phải giải quyết
- Nhà đất tranh chấp là tài sản chung của cụ X và cụ T5 hay là tài sản riêng của cụ T5?
- Việc cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết chia tài sản chung có đúng pháp luật không?
- Việc giải quyết số tiền đền bù giải tỏa 114.079.697 đồng có đúng quy định không?
- Đơn xin vắng mặt của đương sự ở nước ngoài có hợp lệ không?
- Biên bản nghị án có tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng không?
Tòa nhận định
- [1] Căn cứ các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định cụ Lê Văn X có hai người vợ và các con chung như đã nêu.
- [2] Cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ từ UBND phường và nhân chứng để xác định nhà đất tranh chấp là tài sản riêng được tạo lập sau khi cụ X chết hay là tài sản chung.
- [3] Tòa án sơ thẩm buộc ông T2 trả lại số tiền đền bù nhưng phần quyết định không nêu rõ trả cho ai là chưa đúng và không thể thi hành án được.
- [4] Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý và giải quyết chia tài sản chung của cụ X là không có căn cứ vì các thừa kế thế vị không thừa nhận di sản chưa chia.
- [5] Đơn xin vắng mặt và giao kỷ phần của người Việt Nam định cư ở nước ngoài không được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định tại khoản 2 Điều 478 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- [7] Do có các sai sót nghiêm trọng không thể khắc phục được tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử quyết định hủy bản án sơ thẩm.
Trích nguyên văn
[2] "Các chứng cứ nêu trên đã thể hiện nhà và đất đang tranh chấp là của cụ T5 tạo lập sau khi cụ X chết, là tài sản riêng của cụ T5 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành thu thập chứng cứ, điều tra làm rõ các nội dung xác nhận của UBND phường P2, quận S1 tại Công văn số 133/UBND ngày 14/12/2011; xác nhận của Ban nhân dân khối 2, phường P2 ngày 05/11/1976; lấy lời khai của hai người làm chứng là ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị M2, các nhân chứng …"
[5] "Do đó, không thể xác định chữ ký trong các đơn trên có phải chử ký của ông T1, bà K hay của ai khác và các đơn này đã thể hiện đúng ý chí của ông T1, bà K về việc giao tài sản thừa kế được hưởng cho bà P hay không. + Biên bản nghị án: Không áp dụng các căn cứ pháp luật và không biểu quyết từng vấn đề theo quy định tại khoản 2 Điều 264 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: “Khi nghị án, các thành viên Hội đồng xét xử phải… giải quyết tất cả các vấn …"
Điều luật áp dụng
Luật nội dung
- khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015
Điểm đáng chú ý
Khi giải quyết tranh chấp về thừa kế và tài sản chung, Tòa án cần phải xác minh chính xác nguồn gốc tài sản và thời điểm tạo lập. Các văn bản lập ở nước ngoài của đương sự vắng mặt phải tuân thủ thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự theo đúng quy định pháp luật. Việc nghị án và biểu quyết từng vấn đề là thủ tục bắt buộc không được bỏ qua.
Bản án tương tự: Tòa xử thế nào?
Các Tòa án khi giải quyết vụ án có liên quan đến tài liệu nước ngoài hoặc thủ tục nghị án đều phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định về hợp pháp hóa lãnh sự và nguyên tắc xét xử tập thể. Vi phạm tố tụng nghiêm trọng này thường dẫn đến việc hủy án để giải quyết lại.
- Bản án 32/2022/DSPT ngày 23/02/2022 – TAND cấp cao — Xem xét giá trị pháp lý của tài liệu nước ngoài và yêu cầu hợp pháp hóa lãnh sự.
- Bản án 304/2022/DS-PT ngày 11/05/2022 – TAND cấp cao — Hủy toàn bộ bản án sơ thẩm chuyển hồ sơ về xét xử lại do vi phạm thủ tục biên bản nghị án và chữ ký hội thẩm.
Hỏi – đáp
Tòa án cấp phúc thẩm xử lý thế nào khi bản án sơ thẩm có vi phạm tố tụng?
Trong vụ này, Tòa xác định cấp sơ thẩm có sai sót về thu thập chứng cứ, không hợp pháp hóa lãnh sự giấy tờ từ nước ngoài và biên bản nghị án vi phạm thủ tục, nên quyết định hủy bản án sơ thẩm và giao hồ sơ giải quyết lại.
Việc tranh chấp tiền đền bù giải tỏa nhà đất được giải quyết ra sao?
Trong vụ này, Tòa xác định việc buộc đương sự hoàn trả tiền đền bù nhưng phần quyết định không nêu rõ trả cho ai là chưa đúng, không thể thi hành án được và cần phải giải quyết lại.
Đơn xin vắng mặt của người Việt Nam định cư ở nước ngoài cần đáp ứng điều kiện gì?
Trong vụ này, Tòa xác định đơn từ nước ngoài gửi về phải được hợp pháp hóa lãnh sự hoặc chứng thực theo đúng quy định pháp luật thì mới có giá trị xác định ý chí của đương sự.
Thời hiệu chia thừa kế trước năm 1990: vụ này khác gì các vụ cùng loại?
- Giống: người để lại di sản mất trước 10/9/1990; Tòa cấp cao đều xác định thời hiệu chia thừa kế bất động sản vẫn còn vì tính từ 10/9/1990.
- Bản án 102/2019/DS-PT: người cha mất ngày 01/6/1980. Cấp sơ thẩm tính sai thời hiệu; phúc thẩm hủy toàn bộ án sơ thẩm, kèm yêu cầu làm rõ nhân thân người để lại di sản và định giá lại đất.
- Bản án 120/2018/DS-PT: thời hiệu chia thừa kế của cụ ông vẫn còn, nhưng cấp sơ thẩm lại thụ lý, giải quyết theo hướng chia tài sản chung – Tòa cấp cao cho là không đúng, nhất là khi các thừa kế thế vị không thừa nhận di sản chưa chia. Án còn hủy vì giấy tờ của người ở nước ngoài chưa hợp pháp hóa lãnh sự.
Bài học: còn thời hiệu thì kiện chia thừa kế; chỉ khi đã hết thời hiệu và mọi đồng thừa kế đều thừa nhận di sản chưa chia mới chuyển sang chia tài sản chung.
Xem thêm
- Tổng hợp cùng chủ đề: Thời hiệu chia thừa kế: hết thời hiệu Tòa xử thế nào?
Cần luật sư xem vụ việc của bạn? Liên hệ Công ty Luật Unilaw: dịch vụ pháp lý của Unilaw.










