Chuyển đến nội dung chính

MARITIME · INSURANCE · INVESTMENT LAW IN VIETNAM

MARITIME • INSURANCE • INVESTMENT

Bản tin pháp lý · 15.01.2023

Bảo đảm nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng bằng quyền tài sản

Bảo đảm nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng không chỉ được thực hiện bằng nhà, đất, ô tô hoặc máy móc. Pháp luật cho phép nhiều quyền tài sản có giá trị bằng tiền được sử dụng làm tài sản bảo đảm, chẳng hạn khoản phải thu, quyền yêu cầu thanh toán, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồn…

Luật sư UnilawThời gian đọc: 15 phút
Mưa nhẹ trên cỏ hùng vĩ

Bảo đảm nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng không chỉ được thực hiện bằng nhà, đất, ô tô hoặc máy móc. Pháp luật cho phép nhiều quyền tài sản có giá trị bằng tiền được sử dụng làm tài sản bảo đảm, chẳng hạn khoản phải thu, quyền yêu cầu thanh toán, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng, quyền khai thác dự án hoặc một số quyền sở hữu trí tuệ.

Nhưng một quyền “có giá trị” chưa đồng nghĩa ngân hàng chắc chắn có thể nhận thế chấp và xử lý được khi khoản vay vi phạm. Điểm quyết định nằm ở bốn câu hỏi: quyền đó có thuộc bên bảo đảm không, có xác định được không, có được phép chuyển giao/xử lý không và hợp đồng bảo đảm đã mô tả đủ rõ chưa.

Hiểu nhanh:
Có quyền tài sản → chưa đủ.
Quyền phải thuộc bên bảo đảm và xác định được → điều kiện cơ bản.
Phải xem quyền đó có thể chuyển giao, xử lý hay không → điều kiện thực tế rất quan trọng.
Nếu thuộc trường hợp phải đăng ký biện pháp bảo đảm → cần đăng ký đúng để bảo vệ thứ tự ưu tiên.

Bảo đảm nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng là gì?

Trong hợp đồng tín dụng, bên vay có nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi và các nghĩa vụ khác theo thỏa thuận và pháp luật.

Để giảm rủi ro không thu hồi được nợ, tổ chức tín dụng có thể yêu cầu một hoặc nhiều biện pháp bảo đảm. Tài sản bảo đảm không bắt buộc phải là tài sản hữu hình.

Điều 295 Bộ luật Dân sự 2015 quy định tài sản bảo đảm:

  • phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ những trường hợp luật có quy định khác;
  • có thể được mô tả chung nhưng phải xác định được;
  • có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai;
  • giá trị tài sản có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn nghĩa vụ được bảo đảm.

Do đó, câu hỏi quan trọng không phải chỉ là “tài sản này trị giá bao nhiêu?”, mà còn là “nếu bên vay không trả nợ thì ngân hàng có xác định, kiểm soát và xử lý được tài sản này hay không?”

Quyền tài sản là gì?

Điều 115 Bộ luật Dân sự 2015 xác định quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.

Trong hoạt động tín dụng, nhóm quyền tài sản thường đáng chú ý gồm:

  • quyền đòi nợ, khoản phải thu;
  • quyền yêu cầu thanh toán phát sinh từ hợp đồng;
  • quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở;
  • quyền cho thuê, cho thuê lại;
  • quyền khai thác, quản lý dự án đầu tư;
  • quyền hưởng hoa lợi, lợi tức hoặc lợi ích trị giá được bằng tiền phát sinh từ hợp đồng;
  • quyền tài sản đối với một số đối tượng sở hữu trí tuệ;
  • quyền phát sinh từ cổ phần, phần vốn góp trong những trường hợp pháp luật và bản chất quyền cho phép.

Nghị định 21/2021/NĐ-CP đã làm rõ hơn việc sử dụng nhiều loại quyền tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, đặc biệt là quyền phát sinh từ hợp đồng, khoản phải thu, quyền yêu cầu thanh toán và các lợi ích bằng tiền khác.

Quyền tài sản nào có thể dùng để bảo đảm nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng?

1. Quyền đòi nợ và khoản phải thu

Đây là một trong những dạng quyền tài sản dễ hình dung nhất.

Ví dụ, doanh nghiệp A bán hàng cho doanh nghiệp B và có khoản phải thu 20 tỷ đồng sau 90 ngày. Trong những điều kiện phù hợp, quyền yêu cầu B thanh toán có thể được sử dụng làm tài sản bảo đảm cho khoản tín dụng của A.

Ngân hàng khi đánh giá quyền này sẽ không chỉ nhìn vào con số 20 tỷ đồng. Những vấn đề quan trọng hơn gồm:

  • khoản phải thu đã phát sinh hợp pháp chưa;
  • bên phải trả có xác nhận hay đang tranh chấp;
  • thời hạn thanh toán;
  • hợp đồng gốc có hạn chế chuyển giao quyền hay không;
  • quyền đòi nợ đã được dùng để bảo đảm cho chủ thể khác chưa;
  • tiền sẽ được kiểm soát và thu về như thế nào.

2. Quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng

Một hợp đồng có thể tạo ra nhiều quyền trị giá được bằng tiền: quyền nhận tiền, quyền nhận tài sản, quyền hưởng lợi ích, quyền khai thác hoặc các khoản bồi thường phát sinh.

Đây là lý do việc rà soát hợp đồng gốc rất quan trọng trước khi nhận quyền tài sản làm bảo đảm.

Nếu chính hợp đồng tạo ra quyền đó bị vô hiệu, bị chấm dứt, có điều kiện chưa xảy ra hoặc quyền không được phép chuyển giao, giá trị của tài sản bảo đảm có thể thay đổi rất lớn.

3. Quyền tài sản từ hợp đồng mua bán nhà ở

Trong thực tế tín dụng, đây là trường hợp khá phổ biến đối với nhà ở hình thành trong tương lai.

Ở thời điểm người mua chưa có quyền sở hữu hoàn chỉnh đối với căn hộ, tài sản bảo đảm có thể được cấu trúc dưới dạng quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở, với điều kiện giao dịch đáp ứng các yêu cầu pháp luật tương ứng.

4. Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ

Quyền sở hữu trí tuệ có thể tạo ra dòng tiền từ chuyển giao, cấp phép sử dụng, tiền bản quyền hoặc các quyền khai thác khác.

Nhưng không phải mọi quyền gắn với sở hữu trí tuệ đều có thể tự do chuyển giao. Khi nhận bảo đảm cần tách rõ quyền nhân thân và quyền tài sản, cũng như kiểm tra quy định chuyên ngành.

Xem thêm Luật Sở hữu trí tuệ.

5. Quyền liên quan đến cổ phần và phần vốn góp

Phần vốn góp, cổ phần và các quyền kinh tế phát sinh từ chúng có thể có giá trị rất lớn. Tuy nhiên cần phân biệt chính tài sản là phần vốn/cổ phần với các quyền phát sinh từ chúng như cổ tức, quyền mua thêm hoặc khoản tiền nhận được khi chuyển nhượng.

Hợp đồng bảo đảm càng mô tả mơ hồ thì khi xử lý càng dễ phát sinh tranh chấp: thế chấp “phần vốn góp” có bao gồm cổ tức chưa nhận không? Có bao gồm quyền mua thêm vốn phát sinh sau này không? Có bao gồm khoản tiền thu được khi bán phần vốn không?

Giải pháp thực tế là mô tả cụ thể phạm vi tài sản bảo đảm ngay trong hợp đồng.

Bốn điều kiện cần kiểm tra trước khi nhận quyền tài sản làm bảo đảm

1. Quyền phải thuộc bên bảo đảm

Điểm xuất phát là bên đem tài sản đi bảo đảm phải có quyền hợp pháp đối với tài sản đó.

Một người có thể dùng tài sản của mình để bảo đảm nghĩa vụ của chính mình hoặc nghĩa vụ của người khác. Nhưng điều đó khác với việc bên vay tự ý sử dụng tài sản thuộc người khác.

Đây cũng là lý do cần phân biệt rõ thế chấp tài sản của người thứ ba với bảo lãnh.

2. Quyền phải xác định được

Đối với tài sản hữu hình, việc mô tả thường dễ hơn: số thửa đất, biển số xe, số máy, số khung.

Đối với quyền tài sản, việc mô tả cần chú ý:

  • hợp đồng làm phát sinh quyền;
  • chủ thể có nghĩa vụ thanh toán;
  • số tiền hoặc phương pháp xác định số tiền;
  • thời điểm phát sinh và thời hạn thanh toán;
  • các quyền phụ đi kèm;
  • hoa lợi, lợi tức hoặc tiền bồi thường có thuộc phạm vi bảo đảm hay không.

Điều 295 BLDS cho phép mô tả tài sản bảo đảm một cách chung, nhưng tài sản cuối cùng vẫn phải xác định được.

3. Quyền phải có khả năng chuyển giao và xử lý

Đây là điểm đôi khi bị bỏ qua.

Một quyền có thể trị giá bằng tiền nhưng pháp luật hoặc bản chất của quyền không cho phép chuyển giao thì khả năng dùng nó để bảo đảm và xử lý khi vi phạm nghĩa vụ sẽ bị hạn chế.

Ví dụ, những quyền gắn chặt với nhân thân như quyền được cấp dưỡng không nên được nhìn giống một khoản phải thu thương mại có thể chuyển giao.

4. Kiểm tra yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm

Việc đăng ký có ý nghĩa đặc biệt đối với hiệu lực đối kháng với người thứ ba và thứ tự ưu tiên trong nhiều trường hợp.

Khung pháp lý về đăng ký biện pháp bảo đảm hiện được quy định tại Nghị định 99/2022/NĐ-CP.

Do đó, trước khi giải ngân không chỉ cần ký hợp đồng bảo đảm mà còn phải kiểm tra biện pháp đó có thuộc trường hợp đăng ký hay không, đăng ký tại đâu và thông tin mô tả có khớp với hợp đồng bảo đảm không.

Bảo đảm bằng quyền tài sản hình thành trong tương lai

Khoản 3 Điều 295 BLDS cho phép tài sản bảo đảm là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai.

Điều này đặc biệt quan trọng đối với quyền tài sản, vì nhiều quyền chỉ hình thành sau khi một sự kiện xảy ra.

Ví dụ:

  • khoản phải thu phát sinh từ hàng hóa sẽ giao trong tương lai;
  • quyền nhận tiền từ hợp đồng đang thực hiện;
  • quyền tài sản từ nhà ở đang xây dựng;
  • lợi ích tài chính phát sinh từ dự án đầu tư;
  • một số khoản bồi thường hoặc khoản tiền thay thế tài sản bảo đảm.

Vấn đề không phải chỉ là ghi câu “bao gồm tài sản hình thành trong tương lai”. Cần xác định được cơ sở hình thành quyền và cách nhận diện quyền khi nó xuất hiện.

Một bản án thực tế: quyền từ hợp đồng mua căn hộ được dùng bảo đảm khoản vay

Bản án 282/2024/DS-ST là một ví dụ thực tế đáng chú ý về bảo đảm nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng bằng quyền tài sản.

Trong vụ việc, khoản vay được bảo đảm bằng quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán căn hộ. Hồ sơ không chỉ có hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp mà còn có thỏa thuận giữa ngân hàng, người vay và chủ đầu tư về việc quản lý và xử lý tài sản bảo đảm.

Thỏa thuận còn dự liệu trường hợp dự án bị thu hồi hoặc giải tỏa: khoản tiền bồi thường, hỗ trợ hoặc khoản tiền khác người mua được hưởng liên quan đến tài sản bảo đảm sẽ được xử lý theo cơ chế đã thỏa thuận.

Khi người vay không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, Tòa án chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của ngân hàng trên cơ sở hợp đồng thế chấp quyền tài sản và các thỏa thuận liên quan.

Điểm đáng học từ vụ án: ngân hàng không chỉ ghi chung rằng “thế chấp quyền mua căn hộ”. Hồ sơ đã xác định cụ thể hợp đồng làm phát sinh quyền, căn hộ liên quan và cả cơ chế xử lý các khoản tiền có thể thay thế tài sản nếu dự án xảy ra biến động.

Đó chính là khác biệt giữa một quyền tài sản có giá trị kinh tế và một tài sản bảo đảm có khả năng xử lý trên thực tế.

Rủi ro lớn nhất khi thế chấp quyền tài sản: mô tả không đủ rõ

Do quyền tài sản là tài sản vô hình, tranh chấp thường không nằm ở việc tài sản có tồn tại hay không mà nằm ở câu hỏi “phạm vi tài sản bảo đảm đến đâu?”.

Ví dụ, thế chấp quyền đòi nợ 10 tỷ đồng:

  • có bao gồm tiền lãi của khoản nợ không;
  • có bao gồm tiền phạt vi phạm không;
  • có bao gồm khoản bồi thường thiệt hại không;
  • nếu bên có nghĩa vụ trả nợ trước hạn thì số tiền thu được có tiếp tục là tài sản bảo đảm không;
  • nếu hợp đồng gốc bị sửa đổi thì tài sản bảo đảm thay đổi thế nào?

Không nên chờ đến lúc xử lý tài sản mới trả lời các câu hỏi này.

Các bên cần dự liệu ngay khi soạn và rà soát hợp đồng bảo đảm.

Tài sản số từ năm 2026 có thể dùng làm tài sản bảo đảm không?

Đây là điểm cần cập nhật so với các bài viết trước năm 2026.

Luật Công nghiệp công nghệ số 2025, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, đã xác định tài sản số là tài sản theo quy định của pháp luật dân sự, được thể hiện dưới dạng dữ liệu số và được tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao, xác thực bằng công nghệ số trên môi trường điện tử.

Vì vậy, không còn chính xác nếu nói chung rằng pháp luật Việt Nam “chưa thừa nhận tài sản số là tài sản”.

Tuy nhiên, điều đó cũng không có nghĩa mọi tài sản số đương nhiên được ngân hàng chấp nhận làm tài sản bảo đảm.

Vẫn phải kiểm tra:

  • quyền sở hữu/quyền của bên bảo đảm;
  • khả năng xác định tài sản;
  • khả năng chuyển giao;
  • cơ chế định giá;
  • khả năng kiểm soát tài sản;
  • cơ chế xử lý khi nghĩa vụ bị vi phạm;
  • quy định chuyên ngành đối với từng loại tài sản số.

Do đó, với tài sản số, câu hỏi thực tế vẫn giống các quyền tài sản khác: không chỉ “có phải tài sản không?”, mà “có thể xác định, kiểm soát và xử lý được không?”

Ngân hàng nên kiểm tra gì trước khi nhận quyền tài sản làm bảo đảm?

Một checklist ngắn có thể gồm:

  • Nguồn gốc quyền: quyền phát sinh từ văn bản hoặc hợp đồng nào?
  • Chủ thể: ai thực sự sở hữu hoặc có quyền định đoạt?
  • Hiệu lực: hợp đồng làm phát sinh quyền có hợp pháp và còn hiệu lực không?
  • Tranh chấp: quyền đang bị tranh chấp, khấu trừ hoặc cấn trừ nghĩa vụ không?
  • Chuyển giao: pháp luật hoặc hợp đồng gốc có hạn chế việc chuyển giao không?
  • Mô tả: tài sản có đủ thông tin để xác định không?
  • Dòng tiền: khi khoản tiền phát sinh, ngân hàng có kiểm soát được không?
  • Đăng ký: biện pháp bảo đảm có cần và đã được đăng ký đúng chưa?
  • Xử lý: khi vi phạm nghĩa vụ, ai mua hoặc nhận chuyển giao quyền này?

Người vay cần lưu ý gì?

Người vay cũng không nên chỉ nhìn vào việc “ngân hàng đồng ý nhận tài sản”. Cần đọc kỹ phạm vi nghĩa vụ và phạm vi tài sản bị ràng buộc.

Ví dụ:

  • tài sản bảo đảm chỉ cho một khoản vay hay cho mọi nghĩa vụ hiện tại và tương lai;
  • có bảo đảm cả lãi, phí, phạt và chi phí xử lý không;
  • hoa lợi, lợi tức phát sinh có bị ràng buộc không;
  • ngân hàng được quyền thu trực tiếp khoản phải thu trong trường hợp nào;
  • sự kiện nào cho phép ngân hàng xử lý tài sản;
  • sau khi nghĩa vụ chấm dứt, thủ tục giải chấp/xóa đăng ký được thực hiện thế nào.

Đây là các vấn đề nên được xác định trước khi ký, không phải sau khi tranh chấp đã phát sinh.

Câu hỏi thường gặp về bảo đảm nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng

Quyền đòi nợ có thể dùng làm tài sản bảo đảm không?

Có thể. Nhưng cần xác định rõ khoản phải thu, chủ thể phải thanh toán, nguồn gốc phát sinh, thời hạn và các quyền đi kèm. Đồng thời phải kiểm tra quyền đó có bị hạn chế chuyển giao hay đang được dùng để bảo đảm nghĩa vụ khác không.

Tài sản hình thành trong tương lai có thế chấp được không?

Có. Bộ luật Dân sự cho phép tài sản bảo đảm là tài sản hình thành trong tương lai, nhưng tài sản phải có cơ sở để xác định được.

Tài sản của người khác có thể bảo đảm cho khoản vay của tôi không?

Có thể, nếu chính chủ sở hữu xác lập giao dịch bảo đảm tài sản của mình để bảo đảm nghĩa vụ của người vay. Không nên nhầm trường hợp này với việc người vay tự ý sử dụng tài sản của người khác.

Giá trị tài sản bảo đảm có bắt buộc phải lớn hơn khoản vay không?

Không phải là yêu cầu chung của Điều 295 BLDS. Giá trị tài sản có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn nghĩa vụ được bảo đảm. Tuy nhiên, tổ chức tín dụng có quyền áp dụng tiêu chuẩn cấp tín dụng và quản trị rủi ro của mình.

Đăng ký biện pháp bảo đảm có quan trọng không?

Có. Tùy loại tài sản và giao dịch, việc đăng ký có thể liên quan trực tiếp đến hiệu lực đối kháng với người thứ ba và thứ tự ưu tiên thanh toán. Nghị định 99/2022/NĐ-CP là văn bản trung tâm về đăng ký biện pháp bảo đảm hiện nay.

Tài sản số có thể thế chấp ngân hàng từ năm 2026 không?

Việc pháp luật công nhận tài sản số là tài sản không đồng nghĩa mọi tài sản số đều đủ điều kiện hoặc được ngân hàng chấp nhận làm bảo đảm. Cần đánh giá từng loại tài sản và cơ chế chuyển giao, kiểm soát, định giá, xử lý cụ thể.

Đọc tiếp trong cụm Luật hợp đồng

Bảo đảm nghĩa vụ chỉ là một phần của việc thiết kế và thực hiện hợp đồng. Có thể đọc tiếp:

Đang nhận hoặc sử dụng quyền tài sản để bảo đảm khoản tín dụng? Trước khi ký cần kiểm tra nguồn gốc quyền, khả năng chuyển giao, phạm vi tài sản bảo đảm, đăng ký và cơ chế xử lý. Xem luật sư hợp đồng hoặc gọi 0912266811.

error: Content is protected !!
Chat với UniLaw qua Zalo
Trợ lý tra cứu Unilaw Tra cứu bài viết pháp lý và bản án Unilaw
📞 0912266811
Thông tin tham khảo, không thay thế tư vấn luật sư. Đừng nhập thông tin cần giữ bí mật.