Nghĩa vụ gắn nhãn nội dung AI bắt đầu áp dụng từ 01/3/2026 theo Điều 11 Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15, và được Nghị định 142/2026/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết tại Điều 17 và Điều 18. Hai nghĩa vụ khác nhau hay bị gộp làm một, và có bốn trường hợp được miễn mà nhiều nơi không biết.
Gắn nhãn nội dung AI: hai nghĩa vụ, hai chủ thể khác nhau
Điều 11 tách rõ:
- Nhà cung cấp — khoản 2: bảo đảm âm thanh, hình ảnh, video do hệ thống tạo ra được đánh dấu ở định dạng máy đọc. Đây là dấu hiệu kỹ thuật, người xem không nhìn thấy.
- Bên triển khai — khoản 4: gắn nhãn dễ nhận biết với âm thanh, hình ảnh, video mô phỏng ngoại hình hoặc giọng nói của người thật, hoặc tái hiện sự kiện thực tế. Đây là nhãn người xem nhìn thấy.
Ngoài ra khoản 1 buộc nhà cung cấp thiết kế hệ thống tương tác trực tiếp với con người sao cho người dùng nhận biết được mình đang nói chuyện với máy; khoản 3 buộc bên triển khai thông báo rõ ràng khi đưa ra công cộng văn bản, âm thanh, hình ảnh, video do AI tạo hoặc chỉnh sửa nếu nội dung đó có khả năng gây nhầm lẫn về tính xác thực của sự kiện, nhân vật. Khoản 5 nói nghĩa vụ này phải được duy trì suốt quá trình cung cấp, không phải làm một lần.
Văn bản không bắt buộc đánh dấu máy đọc
Khoản 1 Điều 17 Nghị định 142/2026 nói thẳng: nhà cung cấp không bắt buộc đánh dấu kỹ thuật ở định dạng máy đọc đối với nội dung đầu ra là văn bản, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nghĩa vụ máy đọc chỉ áp cho âm thanh, hình ảnh và video.
Khoản 2 Điều 17 cho chọn cách làm, không ép một chuẩn: tích hợp dấu hiệu vào cấu trúc tệp tin; tích hợp vào siêu dữ liệu; dùng chữ ký số, chữ ký điện tử hoặc phương thức xác thực tương đương; hoặc giải pháp kỹ thuật khác bảo đảm nhận diện được. Dấu hiệu phải thể hiện thông tin xác nhận nội dung do AI tạo ra hoặc chỉnh sửa; thông tin về nhà cung cấp, hệ thống và thời điểm tạo là tùy chọn.
Khoản 5 Điều 17 xử riêng hệ thống mã nguồn mở hoặc cung cấp miễn phí: nhà cung cấp được coi là đã làm xong nghĩa vụ khi tích hợp sẵn chức năng đánh dấu, hoặc công bố công khai công cụ, cấu hình tiêu chuẩn, giao diện lập trình ứng dụng hay tài liệu kỹ thuật để bên triển khai tự cấu hình. Khi đó bên triển khai phải tự đánh dấu nếu đưa nội dung ra công cộng.
Bốn trường hợp không phải gắn nhãn nội dung AI
Khoản 4 Điều 18 Nghị định 142/2026 liệt kê đủ bốn:
- Nội dung được chỉnh sửa kỹ thuật để cải thiện chất lượng âm thanh, hình ảnh hoặc video mà không làm thay đổi bản chất hoặc ngữ cảnh chính.
- Văn bản được xử lý bằng công cụ sửa lỗi chính tả, ngữ pháp, tóm tắt, diễn giải hoặc dịch thuật mà không làm sai lệch nội dung cơ bản của văn bản gốc.
- Nội dung dùng trong phạm vi nội bộ của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và không cung cấp ra công cộng.
- Nội dung tạo ra trong quá trình nghiên cứu, phát triển hoặc thử nghiệm trong môi trường kiểm soát và không cung cấp ra công cộng.
Ranh giới hẹp hơn vẻ ngoài. Dùng AI chỉnh màu một bức ảnh sản phẩm thì được miễn; dùng AI thay mặt người trong ảnh đó thì không. Dịch một bài viết bằng AI thì được miễn; viết lại bài đó thành một bản mới thì không còn là “dịch thuật”.
Nhãn phải trông như thế nào
Khoản 3 Điều 18 đặt năm yêu cầu: rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhận biết; được thực hiện trước hoặc tại thời điểm người tiếp nhận tiếp cận nội dung; không được thiết kế theo cách che giấu hoặc làm giảm khả năng nhận biết; phù hợp với loại nội dung và cách cung cấp; và không gây cản trở đáng kể việc hiển thị, trình diễn hay sử dụng nội dung.
Khoản 5 cho bên triển khai tự chọn hình thức: hiển thị trực tiếp trên nội dung; đặt ở tiêu đề, phần mô tả hoặc chú thích; hiển thị trên giao diện nền tảng; hoặc phát thông báo bằng âm thanh.
Phim ảnh và tác phẩm sáng tạo
Khoản 6 Điều 18 cho phép gắn nhãn nội dung AI trong tác phẩm điện ảnh, chương trình nghệ thuật hoặc nội dung sáng tạo được đặt ở phần mở đầu, phần kết thúc, phần danh đề, phần mô tả hoặc tài liệu kèm theo, miễn là người tiếp nhận nhận biết rõ ràng và không nhầm lẫn về nguồn gốc.
Điều khoản này cũng phân vai trong dây chuyền sản xuất: bên tạo ra hoặc chỉnh sửa nội dung có trách nhiệm cung cấp thông tin cần thiết, còn bên trực tiếp đưa nội dung ra công cộng là bên thực hiện nghĩa vụ gắn nhãn trên cơ sở thông tin đó.
Tẩy nhãn là hành vi bị cấm
Khoản 5 Điều 7 của Luật cấm che giấu thông tin bắt buộc phải công khai và cấm tẩy xóa, làm sai lệch thông tin, nhãn, cảnh báo bắt buộc. Đây là hành vi bị cấm tuyệt đối, không phụ thuộc mức rủi ro của hệ thống. Một khâu trong dây chuyền xuất bản làm mất nhãn cũng đủ để rơi vào khoản này, nên quy trình gắn nhãn nội dung AI phải chạy được từ đầu tới lúc phát hành.
Quy trình gắn nhãn nội dung AI doanh nghiệp nên dựng
- Lập danh sách mọi kênh có đưa nội dung ra công cộng: website, mạng xã hội, quảng cáo, video sản phẩm, tổng đài có giọng nói tổng hợp.
- Với từng kênh, xác định nội dung nào do AI tạo hoặc chỉnh sửa, và nội dung đó có rơi vào bốn trường hợp miễn hay không.
- Kiểm tra khâu xuất bản có làm mất siêu dữ liệu hay không — nhiều nền tảng nén lại ảnh và xóa sạch metadata.
- Với nội dung thuê ngoài, đưa nghĩa vụ cung cấp thông tin về việc dùng AI vào hợp đồng với bên sản xuất.
Bộ Khoa học và Công nghệ công bố và cập nhật danh mục tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật tham chiếu cho việc đánh dấu và gắn nhãn; khoản 6 Điều 17 và khoản 7 Điều 18 khẳng định việc công bố này không làm phát sinh thủ tục hành chính hay nghĩa vụ nào ngoài Nghị định.
Xem thêm bản án và bình luận án tại case.unilaw.vn.


