Hệ thống pháp luật Anh cũng được biết đến dưới nhiều tên gọi khác nhau, như: Hệ thống pháp luật thông luật, Hệ thống pháp luật Anh – Mỹ…Hệ thống pháp luật này bao gồm tổng thể các hệ thống pháp luật các quốc gia có mối liên hệ chặt chẽ với pháp luật nước Anh. Hệ thống pháp luật này gắn chặt với sự hình thành và phát triển của nền pháp luật nước Anh.
Sự hình thành pháp luật thông luật Anh
Lịch sử phát triển của pháp luật Anh trải qua 4 giai đoạn sau:
Giai đoạn từ năm 600 – 1066 (thời ký Ăng lô – xắc xông).
Thời kỳ này nước Anh bị người Giéc Manh và người Scandinavé xâm lược nên còn lại rất ít tư liệu về pháp luật. Nghiên cứu các tư liệu còn lại cho thấy thời kỳ này người Anh đã có luật thành văn và ngôn ngữ sử dụng là ngôn ngữ Ăng lô – Xắc xông, đây chính là cơ sở cho sự hình thành hệ thống thông luật sau này. Nhìn chung, pháp luật này còn mang tính manh mún, tản mạn chịu ảnh hưởng sâu sắc của tập quán tại các địa phương.
Giai đoạn 2 (Thời kỳ 1066 đến 1485): đây là thời kỳ hình thành hệ thống thông luật.
Năm 1066, người Normand (sống ở Pháp) xâm lược nước Anh. William trở thành vua nước Anh, nhà vua tìm cách thâu tóm quyền lực vào tay chính quyền trung ương, nước Anh chuyển từ giai đoạn phân quyền cát cứ sang Nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, đây chính là yếu tố quan trọng dẫn tới sự hình thành hệ thống thông luật.
Nhà vua để củng cố chính quyền trung ương đã thi hành hàng loạt các biện pháp như: phong tước cho các thuộc hạ, cử các thẩm phán của triều đình đến các địa phương để xét xử. Ban đầu Toà án Hoàng gia chỉ can thiệp trong phạm vi rất hạn chế, luật địa phương vẫn là cơ sở chủ yếu được áp dụng trên mọi miền của nước Anh, chính vì tính phân tán và manh mún như vậy đã dẫn tới tình trạng hết sức tuỳ tiện trong hoạt động áp dụng pháp luật, do đó nhiều vụ việc toà địa phương không giải quyết được phải gửi lên Toà án Hoàng gia. Ban đầu, chỉ rất ít các vụ việc có thể được xem xét tại Toà án Hoàng gia bởi thủ tục quá chặt chẽ của nó. Để có thể được thụ lý vụ kiện, về thủ tục người yêu cầu phải đệ đơn lên nhà vua để có được Lệnh hầu toà (trên thực tế hoạt động này nhà vua đã uỷ quyền lại cho đại pháp quan) cho phép đưa việc kiện tụng ra xem xét tại toà. Lúc đầu điều này chỉ được thực hiện trong những trường hợp đặc biệt, về sau, danh sách các việc được xem xét tại Toà án này được mở rộng. Trong quá trình hoạt động, Toà án Hoàng gia đã dần hình thành được hệ thống các quy định mà Toà án phải tuân thủ trong các trường hợp kế tiếp sau đó. Quy tắc án lệ đã được hình thành: quyết định xét xử được hình thành một lần trong trường hợp tiếp theo trở thành bắt buộc đối với tất cả các thẩm phán khác khi xét xử những vụ việc có nội dung tương tự. Đến thế kỷ XIX, Toà án Hoàng gia mới trở thành “cơ quan tài phán luật chung”. Dần dần, các nguyên tắc mà Toà án Hoàng gia áp dụng đã thay thế luật địa phương và áp dụng trên toàn bộ nước Anh. Như vậy, pháp luật nước Anh được hình thành ngay từ toà án. Đặc trưng cơ bản của pháp luật thời kỳ này là khẳng định hệ thống thông luật “common law” và khắc phục sự ảnh hưởng của luật địa phương.
Giai đoạn 3: (từ 1485 đến 1832).Thời kỳ xuất hiện Luật công bằng (Equity) bên cạnh Common law.
Vào cuối thế kỷ XIV, sang thế kỷ XV nền kinh tế nước Anh có sự thay đổi to lớn, sản xuất nông nghiệp phân tán đã dần được thay thế bởi nền kinh tế hàng hoá với thương mại phát triển. Hệ thống thông luật với thủ tục mang tính chất hình thức đã trở nên chật hẹp so với nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội, điều này đã dẫn đến kết quả là xuất hiện Luật công bằng bên cạnh Hệ thống thông luật.
Giai đoạn 4 (từ 1832 đến nay): Thời kỳ Pháp luật Anh hiện đại.
Trong suốt thời kỳ này hệ thống thông luật vẫn được khẳng định tại Anh. Bên cạnh đó do các yếu tố chính trị, kinh tế và xu thế quốc tế đòi hỏi mà hệ thống pháp luật thực định cũng dần được khẳng định vị trí của mình bên cạnh hệ thống thông luật. Nhìn chung trong giai đoạn này thông luật đã phải chịu sự chi phối của hệ thống luật thực định và chế độ quan liêu nhà nước ở một mức độ nhất định.
Sự ảnh hưởng của pháp luật Anh đối với thế giới
Tuy chỉ mới xuất hiện vào thế kỷ XI song pháp luật Anh đã có sự bành trướng cực mạnh. Quá trình thuộc địa hoá chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự ảnh hưởng của pháp luật Anh ra ngoài phạm vi châu Âu. Rất nhiều nước trên thế giới chịu sự ảnh hưởng của pháp luật Anh, mà điển hình là trường hợp của Mỹ, Australia, Canada, New Zcaland v.v.. Các nước này được gọi là các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ[1].
- Sự ảnh hưởng của pháp luật Anh ở Bắc Mỹ
Sự ảnh hưởng của pháp luật Anh ở Mỹ
Người Anh xuất hiện lần đầu tiên ở Bắc Mỹ vào thế kỷ XVII, tạo ra các thuộc địa ở James Town (Tiểu bang Virginia) (thuộc địa đầu tiên) năm 1607, ở Plymouth, Massachusetts năm 1620, ở Maryland năm 1632, thuộc địa New York – vốn của người Hà Lan – đã về tay người Anh năm 1664, thuộc địa Pennsylvania – vốn của người Thuỵ Điển, đã về tay người Anh năm 1681. Đến năn 1722, ở Bắc Mỹ có 13 thuộc địa của Anh.
Vào thế kỷ XVII, trên thực tế, common law của Anh không phù hợp với hoàn cảnh của nước Mỹ. Thủ tục tố tụng của pháp luật Anh vốn rất phức tạp, đòi hỏi sự thao tác của các luật gia rất chuyên nghiệp. Trong khi đó, trên thực tế, thời kỳ đó ở Mỹ không có một luật gia nào. Mặt khác, các quy phạm common law được ra đời để phục vụ cho một xã hội phong kiến, không hề giống xã hội Mỹ, một xã hội với hàng loạt các vấn đề mới nằm ngoài giải pháp của common law. Do đó những người nhập cư không thích common law của nước Anh.
Vậy thì người ta phải áp dụng luật gì ở Mỹ? Đó là: các quy định riêng của quan chức địa phương, và một loạt pháp luật khá sơ khai trên cơ sở Kinh Thánh, từ đó tạo ra quyền tuỳ ý quyết định (tuỳ tiện) của quan toà. Để chống lại sự tuỳ tiện nói trên, người ta đã phải soạn thảo những Bộ luật đơn giản. Những Bộ luật đơn giản đã được soạn thảo từ năm 1634 (ở Tiểu bang Massachusetts) đến năm 1682 (ở Tiểu bang Pennsylvania). Tuy nhiên nó không giống như pháp điển hoá với kỹ năng hiện đại. Đây là kiểu tư duy pháp lý hoàn toàn khác người Anh.
Đến thế kỷ XVII thì sự việc đã thay đổi. Mức sống của người nhập cư đã được cải thiện, nền kinh tế và tình cảm cũng đang có sự chuyển đổi. Người ta cần một loại pháp luật phát triễn hơn. Mặt khác, common law bắt đầu được tiếp cận theo cách khác.
Một mặt, common law được coi như biểu hiện của sự đoàn kết giữa những người Anh ở Bắc Mỹ, để đối mặt với mối đe doạ từ vùng Louisiana và vùng Canada thuộc Pháp. Các toà án Mỹ đã ủng hộ việc áp dụng luật thành văn của Anh, như Luật về sự gian lận năm 1677 (Statute of Frands). Các sách bình luận common law của Blackstone đã được in tại Philadelphia từ năm 1771-1772. Tuy nhiên, nước Mỹ vẫn trong tình trạng thiếu luật gia, rất ít quan toà được đào tạo về pháp luật.
Mặt khác, sự kiện nước Mỹ độc lập năm 1776 đã tạo ra những điều kiện mới. Không còn mối đe doạ từ vùng Canada thuộc Pháp (kể từ năm 1763) và vùng Louisiana (kể từ năm 1803). Nước Pháp đã trở nên thân thiện với Mỹ. Nước Mỹ chỉ còn đối đầu với nước Anh. Ý tưởng về một hệ thống pháp luật độc lập là hoàn toàn phù hợp với nền độc lập về chính trị vừa mới giành được ở nước Mỹ. Mặt khác, lý tưởng về một nền cộng hoà và sự hâm mộ dành cho pháp luật tự nhiên đã làm người Mỹ ủng hộ việc ban hành những Bộ luật. Ở Tiểu bang New Orleans còn có cả một Bộ luật dân sự năm 1808 theo kiểu của hệ thống pháp luật châu Âu lục địa. Ở một số Tiểu bang còn cấm viện dẫn án lệ Anh kể từ sau năm 1776. Còn một số vùng lãnh thổ khi sáp nhập vào nước Mỹ vẫn duy trì việc áp dụng luật của Pháp hoặc Tây Ban Nha.
Sự xung đột giữa common law và quan điểm của hệ thống pháp luật châu Âu lục địa đã diễn ra suốt hơn nửa thể kỷ.
Rất nhiều quy phạm common law không bao giờ được áp dụng ở Mỹ, bởi vì nó không phù hợp với hoàn cảnh của nước Mỹ. Một số quy phạm khác lại không thể được áp dụng bởi vì đây không phải là những quy phạm phát sinh từ án lệ. Theo pháp luật Anh, những luật thành văn được thông qua tại Nghị viện Westminster chỉ được áp dụng ở ngoài nước Anh nếu Nghị viện Westminster quy định rõ điều này.
Tuy nhiên, một điều quan trọng nhất phải ghi nhận ở đây là: pháp luật Anh mà nước Mỹ tiếp nhận là pháp luật đã có hiệu lực ở Anh trong thời kỳ mà người Anh thống trị Bắc Mỹ. Đương nhiên, người Mỹ không áp dụng luật Anh sau năm 1776. Sau năm 1776, pháp luật Anh và pháp luật Mỹ trở thành hai hệ thống pháp luật độc lập và phát triễn theo những hướng khác nhau. Pháp luật Anh cũng có thay đổi lớn so với pháp luật thế kỷ XVIII. Còn ở Mỹ, lối sống, cách tư duy, sự phát triễn kinh tế đã sản sinh ra những điều kiện hoàn toàn khác thời kỳ thuộc địa, và khác nước Anh. Pháp luật Mỹ không thể giống pháp luật Anh.
Song, trong một thời gian dài, đối với các luật gia Mỹ, pháp luật Anh vẫn là một hình mẫu, bởi vì thời đó các trường đại học và học thuyết ở nước Mỹ chưa phát triễn. Đồng thời, sự cải cách pháp luật nước Anh hồi thế kỷ XIX cũng gây tác động lớn đối với nước Mỹ. Đến thế kỷ XX, cả ở Anh và Mỹ, người ta đều muốn sử dụng pháp luật để tổ chức và cải tổ xã hội. Lúc này, pháp luật không chỉ đơn giản là một công cụ để giải quyết tranh chấp, mà dần dần trở thành một công cụ đặc thù để tạo ra một xã hội mới. “Quyền lực hành chính” bắt đầu phát triễn ở cả phạm vi Liên bang lẫn phạm vi các Tiểu bang, bên cạnh ba loại quyền lực truyền thống (lập pháp, hành pháp, tư pháp). Có thể nói, từ sau khi nước Mỹ độc lập (năm 1776), hai hệ thống pháp luật Anh và Mỹ có sự phát triễn tương tự nhau.
Tuy nhiên, cần khẳng định rằng pháp luật Anh và pháp luật Mỹ tồn tại rất độc lập, bởi vì hoàn cảnh của nước Anh và của nước Mỹ có sự khác nhau rất cơ bản:
- Nước Anh là một đảo quốc ở châu Âu, còn nước Mỹ ở vị trí một lục địa rộng lớn.
- Nước Anh là một quốc gia có bề dày truyền thống, còn nước Mỹ lại tự hào về ông cha mình là những người đã chống lại ách thuộc địa, là những người nhập cư với nhiều chủng tộc, đã đến đây để tìm một Tổ quốc mới, kiên quyết quay lưng với những truyền thống quá cũ kỹ.
- Nước Anh là một nước quân chủ nghị viện, còn nước Mỹ là một nước cộng hoà tổng thống.
- Nước Anh luôn luôn là một quốc gia đơn nhất, rất tập quyền trong lĩnh vực quản lý tư pháp, còn nước Mỹ là một nước quốc gia Liên bang, trong đó có sự dung hoà lợi ích của các Tiểu bang.
- Giữa nước Anh và nước Mỹ có sự khác nhau rất lớn về cơ cấu kinh tế, cơ cấu chủng tộc, tôn giáo, mức sống, tư tưởng tình cảm, giáo dục, thậm chí tiếng Anh của người Mỹ cũng có những điểm khác biệt với người Anh.
Do đó, về mặt pháp lý, những vấn đề đặt ra và giải quyết vấn đề của người Mỹ cũng rất khác người Anh. Pháp luật Anh chủ yếu gây ảnh hưởng đối với pháp luật Mỹ ở những lĩnh vực tạm gọi là “luật tư”. Còn đối với những lĩnh vực khác như luật hình sự, luật tố tụng, v.v.., ảnh hưởng của pháp luật Anh khá lu mờ. Bởi vì hệ thống tổ chức Nhà nước ở Anh không được người Mỹ ưa thích. Các luật gia Mỹ cũng được đào tạo và tổ chức hoạt động một cách rất chuyên nghiệp, khác với các luật gia Anh.
Tất cả những điều trên làm cho common law ở Mỹ có nét đặc thù so với common law ở Anh. Tuy nhiên, chắc chắn là không nên phóng đại sự khác biệt giữa common law ở Mỹ và common law ở Anh. Dù có sự khác biệt, giữa hai hệ thống pháp luật vẫn có một nền tảng chung, và đây là điều quan trọng để các luật gia Mỹ nhận thức rằng pháp luật Mỹ thuộc về hệ thống common law. Mặc dù sự thắng lợi của common law ở nước Mỹ đã diễn ra một cách rất khó khăn, và nó cũng không hoàn chỉnh, nhưng pháp luật Mỹ vẫn thuộc về hệ thống common law, bởi vì: pháp luật Mỹ nói chung vẫn sử dụng những khái niệm, cách thức lập luận, lý thuyết về nguồn luật của pháp luật Anh[2]. Lý do mà người Mỹ lựa chọn common law của Anh rất đơn giản. Sự tồn tại của tiếng Anh và người nhập cư gốc Anh ở Mỹ đã làm cho pháp luật nước Mỹ thuộc về hệ thống common law.
Tuy nhiên, sự khác biệt trên thực tế giữa pháp luật Anh và pháp luật Mỹ đem lại hệ quả sau: một luật gia Mỹ có thể dễ dàng tiếp cận luật Anh, nhưng ngược lại một luật gia Anh sẽ khó khăn khi tiếp cận luật Mỹ.
Sự ảnh hưởng của pháp luật Anh ở Canada
Nhà nước tự trị Canada (Dominion of Canada) được thành lập từ năm 1867 trên cơ sở Luật về vấn đề Bắc Mỹ thuộc Anh (British North America Act). Vào thời điểm này, Nhà nước Liên bang Canada bao gồm 4 “tỉnh” (tương đương Nhà nước thành viên của Liên bang): Québec, Ontario, New Brunswick, Nova Scotia. Đến năm 1869 mua thêm lãnh thổ của Công ty Vịnh Hudson (Hudson’s Bay Company). Sau này một số tỉnh mới được thành lập: British Columbia (năm 1871), Manitoba (năm 1879), Saskatchewan và Alberta (năm 1905), New Land (năm 1949). Hiện nay, Canada có 10 tỉnh.
Về tổ chức tư pháp: ở mỗi tỉnh có một hệ thống tư pháp riêng. Toà án tối cao Canada là toà án cấp phúc thẩm, bao gồm 9 thẩm phán, trong đó có 3 thẩm phán đến từ Québec – với tư duy pháp lý theo kiểu của hệ thống pháp luật châu Âu lục địa được các luật gia common law (common lawyers) giải thích và biểu quyết theo đa số.
Sự ảnh hưởng của pháp luật Anh ở Australia
Năm 1770, triều đình Anh thiết lập quyền sở hữu của mình trên vùng đất Astralia. Những người Anh đầu tiên trên mãnh đất này là những phạm nhân chịu hình phạt đi đày. Đến năm 1828, Luật về Nghị viện (Act of Parliament) quy định: luật áp dụng ở thuộc địa Australia là common law và luật thành văn (statute) có hiệu lực ở nước Anh. Thời kỳ này, ở Astralia đã có tổ chức chính trị ở cấp địa phương (hội đồng địa phương ra đời từ bầu cử). Đến năm 1860, người ta phát hiện ra mỏ vàng ở Australia. Ngày càng nhiều người nhập cư đến mảnh đất này. Nước Anh không cần thiết phải đầy phạm nhân đến Australia nữa. Lúc này, Australia đang tiến tới một Nhà nước Liên bang. Luật về Hiến pháp Liên bang Australia năm 1900 (The Commonwealth of Australia Constitution Act) ghi nhận sự tồn tại của 6 Bang: New South Wales, Victoria, Queensland, Tasmania, South Australia và West Australia. Mỗi Bang có Hiến pháp và hệ thống pháp luật riêng. Nội dung pháp luật của các Bang tương tự nhau, vì đều theo khuôn mẫu của pháp luật Anh. Án lệ của Australia có thể có giá trị tham khảo đối với toà án Anh. Ở Australia có tổ chức tư pháp tương tự như ở Anh.
Sự ảnh hưởng của pháp luật Anh ở Ấn Độ
Công ty Đông Ấn của Anh (East India Company) đến Ấn Độ từ năm 1600 và có quyền lập pháp để bảo đảm việc quản lý các hoạt động của mình trên đất Ấn Độ. Những quan chức cao cấp có thể trừng phạt tội phạm hình sự. Đây chính là tiền thân của các toà án thị trưởng (Mayor’s Court) ở Bombay, Madras, Calcutta. Pháp lệnh của triều đình Anh năm 1726 trao cho họ quyền xét xử theo công lý và pháp luật, nghĩa là theo common law và luật thành văn của nước Anh, nếu nó không mâu thuẫn với tập quán địa phương. Các toà án thị trưởng trở thành toà án tối cao ở các Bang của Ấn Độ. Tại đây, common law được áp dụng với tư cách “pháp luật chung”.
Từ khi Ấn Độ độc lập năm 1950, Ấn Độ là một nhà nước Liên bang với 15 Bang thành viên. Những quyền cơ bản được ghi nhận trong Hiến pháp. Còn án lệ Ấn Độ cũng theo mô hình của nước Anh.
Trong một thời gian dài, Vương Quốc Anh là một quốc gia dẫn đầu thế giới về thương mại và hàng hải. Thực tế này đã góp phần phổ biến pháp luật Anh trong lĩnh vực thương mại và hàng hải tới cả những nước trước đây chưa từng là thuộc địa của Anh.
Hình thức pháp luật
Án lệ
Trong pháp luật nước Anh, Luật án lệ là nguồn chủ yếu của pháp luật. Quy tắc chung của luật án lệ, trước tiên, khi xem xét vụ việc Tòa án phải làm sáng tỏ có vụ việc như vậy đã trở thành đối tượng của việc xét xử trước đây hay chưa và trong trường hợp đã có vụ việc như vậy thì cần phải tuân thủ quyết định đã có.
Án lệ xét xử là nguồn cơ bản của pháp luật nước Anh. Hiện nay ở Anh có khoảng 800 000 án lệ và hàng năm, các Tòa án bổ sung khoảng 20 000 án lệ mới. Tất cả các án lệ xét xử tạo thành 300 tuyển tập theo pháp luật bên trong quốc gia và theo pháp luật Châu Âu.
Quy tắc điều chỉnh việc áp dụng án lệ
Vấn đề đặt ra là: một bản án của toà án sẽ được áp dụng trong tương lai cho một vụ việc tương tự trong những điều kiện nào?
- Chỉ có những bản án được coi là có tính bắt buộc (binding) mới tạo thành án lệ và có giá trị pháp lý (decisive authority). Còn những bản án khác chỉ có giá trị tham khảo (persuasive authority). Những bản án về những vấn đề quá lạc hậu (ví dụ: quan niệm về trọng nam khinh nữ) sẽ bị huỷ bỏ tư cách án lệ, không còn được coi là có tính bắt buộc (binding).
- Chỉ có phần lập luận (speech) của bản án được coi là án lệ, bởi vì trong phần này, thẩm phán trình bày lý do và đưa ra ý kiến. Phán quyết của toà án thường là rất dài. Bởi vì: thứ nhất, toà án ra phán quyết trên cở sở phương thức tiếp cận cá nhân, nên các quan toà đều đưa ra ý kiến của mình. Cách làm này khác với hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, theo đó hội đồng xét xử áp dụng phương thức tập thể khi ra phán quyết, nên bản án thường chỉ dài 1-2 trang. Thứ hai, các bên tham gia phiên toà có thể viện dẫn rất nhiều án lệ. Trong vụ kiện nổi tiếng trong pháp luật nước Anh – Vụ Donoghue kiện Stevenson do Toà án tối cao Anh xử năm 1932, có 32 án lệ đã được viện dẫn trong phán quyết này.
Quy tắc điều chỉnh việc áp dụng án lệ của Anh được gọi là Rule of precedent, còn quy tắc điều chỉnh việc áp dụng án lệ của Mỹ được gọi là Rule of stare decisis.
Ở Anh, các án lệ mang tính bắt buộc thường được ghi chép trong law Reports, All England Law Reports, Weekly Law Reports. Còn tập hợp các án lệ của Mỹ được in trong tuyển tập Trình bày về pháp luật (Restatement of the Law) của Hiệp hội tư nhân có tên là Viện luật Hoà Kỳ (American Law Institute).
Án lệ gắn chặt với Tòa án, trong tổ chức hệ thống Tòa án ở Anh tình hình được thể hiện như sau:
- Các quyết định của cấp xét xử cao nhất – Viện các Công tước có ý nghĩa bắt buộc đối với các tòa án khác.
- Tòa án thượng thẩm bao gồm hai tòa (Tòa Dân sự và Tòa Hình sự) có nghĩa vụ tuân thủ các án lệ của Viện các Công tước và quyết định của Tòa thượng thẩm có ý nghĩa bắt buộc đối với các tòa cấp dưới.
- Tòa án cấp trên (tất cả các tòa của nó) buộc phải tuận thủ án lệ của Tòa án cấp xét xử cao hơn và các quyết định của nó có ý nghĩa bắt buộc đối với cấp xét xử thấp hơn, cũng như ảnh hưởng đến việc xem xét vụ việc ở các tòa của chính mình.
- Các Tòa án khu vực và các Tòa án thị chính bắt buộc phải tuân thủ các án lệ của tất cả các cấp xét xử cấp trên và các quyết định riêng của Tòa án đó không phải là án lệ.
Ở nước Anh, về mặt truyền thống quy tắc án lệ là quy tắc nghiêm ngặt. Các cấp xét xử không thể khước từ án lệ do cấp đó đưa ra trước đây và án lệ đó chỉ có thể do cấp xét xử cao nhất hoặc văn bản của Nghị viện có thể thay đổi.
Quan niệm cho rằng án lệ gò bó các thẩm phán hoàn toàn không chính xác, bởi lẽ chính các thẩm phán sẽ quyết định các vụ việc xảy ra có tương đồng nhau hay không, và trong trường hợp cần thiết chính các thẩm phán sẽ tạo ra án lệ mới.
Luật thành văn
Luật thành văn bao gồm hai loại: statute law do Nghị viện ban hành và delegated or subordinate legislation do những cơ quan được Nghị việc uỷ quyền ban hành.
Ở Anh không có Hiến pháp thành văn. Cái mà người Anh gọi là Hiến pháp chính là tổng thể các quy phạm có nguồn gốc luật thành văn hoặc nguồn gốc án lệ, có nội dung liên quan đến việc bảo đảm quyền tự do cơ bản của công dân và hạn chế sự độc đoán của chính quyền.
Vị trí của luật thành văn từ 100 năm nay đã có sự thay đổi, nhất là khi nước Anh gia nhập EEC (năm 1972), theo đó pháp luật Anh phải phù hợp với pháp luật cộng đồng về nội dung điều chỉnh. Những vấn đề mới phát sinh phải điều chỉnh kịp thời bằng luật thành văn. Sự xuất hiện của luật thành văn làm thay đổi sâu sắc pháp luật cũ và tạo ra nhiều lĩnh vực mới trong pháp luật Anh.
Trong pháp luật nước Anh, không có trật tự đẳng cấp giữa Hiến pháp và Luật. Hệ quả của nó là:
- Nếu có xung đột giữa hiến pháp và luật, thì áp dụng quy tắc lex posterior derogate priori, nghĩa là văn bản ban hành sau sẽ có giá trị áp dụng.
- Không có thủ tục kiểm soát tính hợp hiến.
- Nếu có sự xung đột giữa các văn bản pháp luật và án lệ, người ta sẽ áp dụng các văn vản pháp luật. Tuy nhiên, theo tư duy truyền thống vốn coi trọng án lệ, các thẩm phán Anh luôn cố gắng giải thích các văn bản pháp luật theo hướng nhằm làm hạn chế tối đa việc áp dụng chúng.
Luật thành văn được ghi chép trong Statutes of Law Reports hoặc Halsbury’s Statutes of England, Halsbury’s Statutory Instruments, H.M.Stationery Office, London.
Tập quán pháp
Theo quan điểm của hệ thống pháp luật Anh – Mỹ, tập quán thường được thể hiện trong các nguồn luật khác (án lệ và luật thành văn). Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tập quán không có vai trò gì trong hệ thống nguồn luật của hệ thống pháp luật Anh – Mỹ. Có những trường hợp tập quán không được “sáp nhập” vào các nguồn luật khác. Đó thường là các trường hợp sau đây:
- Tập quán được áp dụng trong lĩnh vực rất riêng biệt, thường là tập quán địa phương (local customs);
- Tập quán trong lĩnh vực thương mại (mercantile customs).
Trong thời kỳ trước đây, tính chất cứng nhắc của hệ thống common law (Case law) không phù hợp vời đòi hỏi của thương mại quốc tế. Do đó, từ thời Trung Cổ, tập quán thương mại quốc tế lex marcatoria đã thực sự có vai trò chủ đạo trên toàn châu Âu. Đến thế kỷ XVIII, lex marcatoria hoà nhập cùng common law.
Lẽ phải (luật hợp lý) (reasons)
Trong trường hợp không có luật thành văn, không có án lệ, không có tập quán điều chỉnh vấn đề mà thẩm phán đang phải giải quyết, thì thẩm phản sẽ phải thực hiện quyền sáng tạo ra pháp luật – sử dụng lẽ phải (có người sử dụng thuật ngữ luật hợp lý), với tư cách là một nguồn luật thực sự. Trong trường hợp này, lẽ phải có vai trò lấp chỗ trống của pháp luật. Thẩm phán sẽ thường sử dụng những thuật ngữ như: reason, reasonable man, reasonable price, reasonable time, v.v..đây là nguồn luật thể hiện nét đặc thù của hệ thống pháp luật Anh – Mỹ.
Lẽ phải có thể được thể hiện bằng cách:
- Viện dẫn tập quán không có giá trị bắt buộc hoặc viện dẫn bản án không phải là án lệ, hoặc viện dẫn dicta;
- Viện dẫn án lệ nước ngoài (Scotland, Irland, các nước khối thịnh vượng chung như Canada, Australia, Mỹ), thậm chí án lệ của các nước thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa.
- Cấu trúc pháp luật
Hệ thống pháp luật Anh – Mỹ không phân chia pháp luật thành luật công và luật tư, mà phân chia thành common law và equity law.
Common law (thông luật)
Đặc trưng của common law (thông luật)
Common law được bắt đầu từ pháp luật tố tụng: Trước đây, việc đem vụ việc của mình ra kiện trước Toà án Hoàng gia không phải là quyền, mà là một ưu đãi mà Toà án có thể ban phát hoặc không ban phát. Về thủ tục, người nào muốn xin sự ưu đãi này phải gửi đơn đến một quan chức cao cấp của nhà vua – gọi là đại pháp quan (Chancellor) – xin cấp một văn bản gọi là writ (tương tự như lệnh hầu toà hoặc giấy triệu tập của toà án), theo đó Toà án Hoàng gia có thẩm quyền xử kiện. Tuy nhiên, hồi thế kỷ XIII, không phải là trong mọi trường hợp đại pháp quan đều có thể cấp writ hoặc thẩm phán có thể chấp nhận xét xử. Có danh sách những trường hợp điển hình do luật quy định (brevia de cursu). Danh sách năm 1227 liệt kê được 56 trường hợp, năm 1832 liệt kê được 76 trường hợp. Theo pháp luật hiện nay, việc đề nghị Toà án cấp writ trở thành quyền của nguyên đơn.
Writ giống như tờ lệnh của vua ban cho quan chức của mình, để quan chức Nhà nước ra lệnh cho bị đơn hành động đúng luật, đáp ứng yêu cầu của nguyên đơn. Nếu bị đơn từ chối tuân lệnh, nguyên đơn sẽ hành động chống lại bị đơn. Thủ tục tố tụng tại Toà án Hoàng gia phục thuộc vào cách thức khởi kiện. Mỗi một cách thức khởi kiện tương ứng với một loại lệnh hầu toà nhất định (writ), trong đó xác định những hành vi phải thực hiện, cách thức điều chỉnh các vấn đề xảy ra, khả năng đại diện của các bên, điều kiện chấp nhận các chứng cứ, biện pháp bắt buộc thi hành quyết định của Toà án. Có hoạt động tố tụng đòi hỏi có hội đồng xét xử, có hoạt động tố tụng lại không cần hội đồng. Có hoạt động tố tụng được xét xử vắng mặt bị đơn, có hoạt động tố tụng khác lại không thể cho phép vắng mặt bị đơn khi xét xử. Có những thủ tục chỉ được áp dụng cho từng vụ việc riêng biệt (on the case). Loại thủ tục phổ biến nhất là thủ tục được quy định trong writ of trespass.
Cần phải nhấn mạnh rằng vấn đề thủ tục tố tụng là rất quan trọng đối với hoàn cảnh của nước Anh. Trong khi ở châu Âu lục địa, các luật gia quan tâm chủ yếu đến việc xác định quyền và nghĩa vụ của mỗi người, tức là quy phạm pháp luật nội dung, thì các luật gia Anh lại quan tâm đến các quy phạm tố tụng. Vấn đề là làm sao để Toà án Hoàng gia chấp nhận giải quyết vụ việc. Do đó, common law được bắt đầu từ pháp luật tố tụng.
Sự phân biệt giữa luật công và luật tư bị loại bỏ: Toà án Hoàng gia Anh mở rộng thẩm quyền của mình bằng cách cho rằng chính lợi ích của nhà vua sẽ chứng minh cho sự can thiệp của Toà án Hoàng gia. Các loại toà án khác chỉ giải quyết những vấn đề liên quan đến lợi ích tư nhân. Tuy nhiên, thẩm quyền của các toà án này cũng dần dần bị thu hẹp, và thậm chí ý tưởng về luật tư cũng dần dần biến mất ở nước Anh. Việc hầu hết các vụ kiện được xem xét ở Toà án Hoàng gia đã là sự xác nhận tầm quan trọng của luật công. Khía cạnh “luật công” của pháp luật Anh được thể hiện trong một kỹ thuật rất đặc biệt được gọi là writ. Trong một thời gian dài, pháp luật Anh không chấp nhận sự phân biệt giữa luật công và luật tư như cách hiểu của hệ thống pháp luật châu Âu lục địa. Ngay cả hiện nay, trong cách phân loại pháp luật, các luật gia Anh, trong chừng mực nhất định, vẫn dựa theo cách phân loại truyền thống các loại writ, cho dù hệ thống writ đã bị loại bỏ từ thế kỷ XIX. Theo các luật gia thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, cách phân loại này không phản ánh được mối liên hệ cở bản giữa các lĩnh vực pháp luật khác nhau, nó tách hệ thống pháp luật thành rất nhiều nhánh nhỏ và các nhánh này thường có phần chồng chéo lên nhau, dó đó cách phân loại này chưa thật hợp lý.
Pháp luật Anh ít chịu ảnh hưởng luật La Mã: Mặc dù nước Anh đã từng là một phần của Đế chế La Mã trong 4 thế kỷ, nhưng dường như pháp luật Anh không chịu ảnh hưởng quan trọng của luật La Mã. Có rất nhiều thuật ngữ luật học Anh là thuật ngữ La-tinh, nhưng chúng cũng không có mối liên hệ trực tiếp với luật La Mã về luật nội dung. Vào thời kỳ đầu của pháp luật Anh, Toà án Hoàng gia chỉ có thẩm quyền đối với từng trường hợp. Thủ tục của pháp luật Anh mang sắc thái rất cổ. Chỉ có thể học được sự phức tạp và tính kỹ thuật của các thủ tục này thông qua thực tiễn. Kiến thức ở trường Đại học, dựa trên nền tảng luật La Mã, có thể cho phép tìm ra các giải pháp đúng cho cuộc tranh chấp, nhưng chưa chắc cho phép thắng kiện. Chính pháp luật tố tụng Anh đã cản trở của sự ảnh hưởng của luật La Mã. Các luật gia Anh được đào tạo từ thực tiễn, quan tâm chủ yếu tới vấn đề thủ tục tố tụng và chứng cứ – nhờ những cái đó mà một hành vi khởi kiện có thể được thụ lý và thắng kiện.
Writ (lệnh hầu toà)
Theo pháp luật tố tụng của Anh, để khởi kiện, nguyên đơn có quyền đề nghị toà án ban hành lệnh hầu toà (writ) gửi tới bị đơn, theo đó ra lệnh cho bị đơn hành động đúng pháp luật, đáp ứng yêu cầu của nguyên đơn. Nếu bị đơn từ chối tuân lệnh, nguyên đơn sẽ hành động chống lại bị đơn. Ví dụ: writ có nội dung như sau: “…yêu cầu A phải trả là cho B ngay lập tức 100 Bảng mà B đã nợ A và hiện đang chiếm giữ bất hợp pháp…”. Writ này được gọi là writ đòi nợ (writ of debt). Sau đây là ví dụ về một số loại writ thông dụng:
- Writ of praecipe: praecipe nghĩa là yêu cầu. Đây là loại writ cơ bản nhất.
- Writ of right: writ có nội dung đòi quyền sở hữu bất động sản. Đây là lệnh yêu cầu trả lại bất động sản (chẳng hạn như mảnh đất) đang tranh chấp. Mục đích của lệnh này là bắt buộc khôi phục quyền sở hữu, chứ không phải là bồi thường tài chính.
- Writ of trespass: từ trespass được hiểu là thiệt hại phát sinh từ sự cẩu thả, vô ý. Đây là lệnh ra hầu toà để bị đơn giải thích cho nguyên đơn tại sao lại có hành vi vi phạm dân sự. Trong trường hợp này, mục đích của writ không phải là nhằm khôi phục một quyền, mà là trừng phạt sự vi phạm.
- Writ of assumpsit: assumpsit nghĩa là tôn trọng cam kết. Writ này được sử dụng trong lĩnh vực hợp đồng.
- Writ of detinue: chủ sở hữu có thể thông qua lệnh này đòi trả lại tài sản cá nhân bị chiếm hữu bất hợp pháp.
Cùng với sự phát triễn của pháp luật, người ta tạo ra nhiều loại writ. Chẳng hạn: writ đòi nợ, writ đòi bồi thường do bị chiếm hữu tài sản trái phép, writ liên quan đến việc kiện những hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, v.v.. Thông qua thủ tục writ, Hoàng gia đã thừa nhận hay phên chuẩn việc khiếu kiện hợp pháp. Khả năng thắng kiện của nguyên đơn trong vụ việc phụ thuộc vào vấn đề: có loại writ nào phù hợp với vụ việc của mình không, hoặc đại pháp quan có chấp nhận ban hành writ hay không. Theo cách này, hệ thống writ đã tạo ra khung phía ngoài của nội dung thực định của common law. Do đó, người ta vẫn thường nói rằng: “không có writ, không có quyền”.
Hệ thống writ tiếp tục tồn tại cho đến giữa thế kỷ XIX, và bị loại bỏ dần vào năm 1852 – 1875. Mục đích của việc loại bỏ nhiều loại writ nhằm làm đơn giản hoá thủ tục tố tụng, nhưng không làm thay đổi luật nội dung. Hiện nay, trong pháp luật tố tụng, chỉ còn lại một số loại writ cơ bản. Khi được phát đi, writ mang tính hành chính. Nó có thể được gửi trả lại toà án, khi mà bị đơn không chấp nhận lệnh hành chính và chấp nhận ra hầu toà. Khi đó bắt đầu công việc xét xử của toà án. Lúc này, toà án lại phát đi một writ mới để bảo đảm thi hành các bước tố tụng. Loại writ này được gọi là writ tư pháp (judicial writ), bao gồm một số loại sau:
- Writ of attachment: đây là lệnh theo đó bị đơn phải thực hiện một biện pháp bảo đảm nào đó để bảo đảm chắc chắn sự có mặt cảu mình trước toà (chẳng hạn: bảo đảm bằng một khoản tiền)
- Writ of distringas: đây là lệnh tạm giữ tài sản của bị đơn.
- Writ of capias ad respondum: lệnh bắt bị đơn.
- Writ of habeas corpus: đây là loại writ theo đó một người bị mất quyền tự do có thể nhờ toà án xem xét. Loại writ này hiện nay tồn tại rất phổ biến ở các hệ thống pháp luật thuộc hệ thống pháp luật Anh – Mỹ.
- Writ of trorer: đây là loại writ theo đó nguyên đơn có quyền được xét xử có sự có mặt của bồi thẩm đoàn.
- Writ of detinne: đây là loại writ theo đó nguyên đơn không có quyền được xét xử với sự có mặt của bồi thẩm đoàn.
Hệ thống writ là một trong những biểu hiện bên ngoài thể hiện đặc trưng của pháp luật Anh. Nó chứng tỏ vai trò quan trọng của các quy định về thủ tục. Việc một người có đủ các cơ sở pháp luật nội dung không quan trọng bằng việc liệu người đó, theo các loại quy định phức tạp về thủ tục, có cơ hội thực hiện các quyền của mình hay không. Bên nguyên đơn phải lựa chọn được các loại writ, nghĩa là: ngay từ đầu quá trình tố tụng, bên nguyên đơn phải quyết định được phương thức tố tụng. Nếu người này không lựa chọn đúng loại writ, vụ việc sẽ không được xem xét.
Equity law (luật công bằng)
Sự phân biệt giữa common law và equity law trong pháp luật Anh cũng tương tự như sự phân biệt giữa luật công và luật tư trong pháp luật Pháp. Từ sự phân biệt này, có sự phân biệt giữa các luật gia common law (common lawyers) và luật gia equity law (equity lawyers).
Sự hình thành common law phụ thuộc nhiều vào thủ tục tố tụng mang tính hình thức. Hơn nữa, sự không đầy đủ của common law dẫn tới sự xuất hiện một hệ thống pháp luật mới, gọi là equity law (“luật công bằng”).
Bên cạnh các quy phạm common law – sản phẩm của Toà án Hoàng gia (còn gọi là là Toà án common law), còn có các quy phạm equity law – cho phép bổ sung và sữa chữa các quy phạm common law. Chẳng hạn, theo common law, chủ sở hữu có thể đòi trả lại tài sản cá nhân bị chiếm hữu bất hợp pháp thông qua writ of detinue. Nhưng nếu bị đơn đã tẩu tán tài sản, thì writ of detinue trở nên vô nghĩa và common law không giải quyết được vấn đề đặt ra. Cần có quy phạm bổ sung, chẳng hạn như bị đơn phải bồi thường bằng tiền thay cho việc trả lại tài sản. Đó chính là quy phạm theo kiểu equity law.
Cho tới năm 1895, equity law chỉ được áp dụng tại một cơ quan tài phán đặc biệt – gọi là Chancery Court. Các quy phạm equity law cũng có tính pháp lý và chặt chẽ như quy phạm common law, và nó cũng không công bằng hơn quy phạm common law. Theo các luật gia Anh, trước đây equity law là tổng thể các quy phạm cho phép bổ sung pháp luật Anh, ngày nay nó là một bộ phận không thể tách rời của pháp luật Anh.
Có người dịch từ equity ra tiếng Việt là công bằng hay công lý. Nhưng theo người Anh, khi diễn tả vấn đề công bằng, người ta tránh dùng từ equity, mà dùng từ justice, fairness hoặc good conscience. Từ equity là một thuật ngữ thuần tuý luật học, có nguồn gốc từ một từ tiếng Pháp – équité.
Các đặc trưng của equity law
- Equity law được áp dụng theo nguyên tắc equity tôn trọng pháp luật (equity follows the law hoặc equitas sequitur legem). Sự can thiệp của Chancery Court không tạo ra quy phạm pháp luật mới, không thay đổi nội dung pháp luật.Toà án equity law can thiệp vì “sự công bằng”, mà không làm thay đổi quy phạm pháp luật được toà án common law không hoàn hảo. Nếu một người xử sự không tốt bằng cách lợi dụng sự không hoàn hảo của pháp luật, thì đó là một xử sự trái với lương tâm. Trong trường hợp có sự xung đột giữa common law và equity law, equity law sẽ được ưu tiên áp dụng. Quy định này đã được đưa vào Luật về cải cách tổ chức toà án năm 1873 và Luật toà án tối cao năm 1981. Tuy nhiên, equity law vẫn chỉ ở vị trí bổ sung cho common law. Trước mỗi vụ việc, luật sư Anh trước hết phải xem xét các quy định của common law, sau đó mới xem xét vấn đề: liệu equity law có thể tác động như thế nào đối với các quy định này.
- Thẩm phán equity law hành động bằng cách ra lệnh cho bị đơn: cấm bị đơn xử sự theo cách này hay cách khác, và áp đặt cho bị đơn một cách xử sự phù hợp với đòi hỏi của đạo đức và lương tâm. Chẳng hạn: khi giải quyết những vụ việc liên quan đến trust, thẩm phán sẽ bắt buộc người được uỷ thác phải hành động theo cách trung thành với lời hứa. Nếu bị đơn không tuân lệnh thì sẽ bị bỏ tù hoặc tịch thu tài sản.
- Các giải pháp equity law thường rất mềm dẻo, mang tính tuỳ ý.
- Thẩm phán equity law chỉ can thiệp nếu hành động của bị đơn bị coi là trái với lương tâm, đồng thời nguyên đơn phải có tư cách đạo đức tốt, có “bàn tay sạch” (“clean hands”).
- Thủ tục của Toà án equity law: do ảnh hưởng thủ tục của luật giáo hội, nên việc xét xử theo thủ tục equity law không cần sự tham gia của bồi thẩm đoàn, và theo thủ tục viết, nghĩa là xem xét vấn đề trên hồ sơ bằng văn bản. Với danh nghĩa đạo đức và lương tâm, thẩm phán equity law có thể sử dụng các biện pháp đặc biệt để làm sáng tỏ sự thật – các biện pháp mà thẩm phán equity law không được phép áp dụng. Chẳng hạn, common law quan niệm rằng vụ án là một cuộc đấu, trong đó thẩm phán đóng vai trò trọng tài. Mỗi bên phải đưa ra các chứng cứ của mình, và bên này không thể bắt buộc bên kia xuất trình tư liệu mà họ đang có. Còn khi equity law can thiệp, thì thẩm phán có thể ra lệnh cho một bên xuất trình tư liệu bằng một lệnh đặc biệt, gọi là discovery order. Nói chung, thủ tục của toà án equity law đơn giản hơn so với toà án common law. Để yêu cầu xét xử, đương sự chỉ cần gửi bill (khiếu nại), không cần toà án ban hành writ theo thủ tục phức tạp.
- Equity law được áp dụng trong nhiều lĩnh vực: bồi thường thiệt hại khi không thực hiện hợp đồng, trust, hoặc trong thủ tục xử án.
So sánh equity law và common law
Giữa equity law và common law có sự khác nhau sau đây:
| Sự khác nhau | Equity law | Common law |
| Nguồn gốc lịch sử của quy phạm | Xuất phát từ Chancery Court | Xuất phát từ Toà án Hoàng gia |
| Quy phạm được áp dụng
|
Quy phạm equity law – có chức năng bổ sung cho quy phạm common law | Quy phạm common law |
| Thủ tục xét xử | Việc xét xử không cần sự tham gia của bồi thẩm đoàn;
Xem xét vấn đề trên hồ sơ (thủ tục viết), và thẩm vấn. |
Việc xét xử phải có hội đồng;
Tranh luận bằng lời, theo nguyên tắc tố tụng đối kháng |
| Giải pháp pháp lý | Thường mang tính tuỳ nghi | Bị ràng buộc bởi án lệ và thủ tục phức tạp |
| Cở sở pháp lý để giải quyết vụ việc | Phụ thuộc hoàn toàn và thẩm phán, trên cơ sở đạo đức và lương tâm | Án lệ |
| Thủ tục yêu cầu xét xử | Bill (khiếu nại) | Writ |
Các thuật ngữ mà Chancery Court sử dụng cũng khác với Toá án common law:
| Toà án common law | Toà án equity |
| Khởi kiện (action) | Khiếu nại (suit) |
| Để bảo vệ các quyền (rights) | Để bảo vệ các lợi ích (interests) |
| Ra bản án (judgement) | Ra mệnh lệnh, quyết định (decree) |
Có thể thực hiện cùng một lúc hai hoạt động khởi kiện đối với cùng một vụ việc, trước toà án common law và toà án equity law. Tình trạng này được chấm dứt vào năm 1873 – 1875, với Luật về cải cách tổ chức toà án (Judicature Acts). Thời kỳ đầu, equity law can thiệp vì lý do lương tâm, đạo đức. Nhưng sau này, từ năm 1875 đã có sự phát triễn mới: rất nhiều vấn đề không mang tính lương tâm, đạo đức cũng được toà án equity law xem xét (chẳng hạn: vấn đề thế chấp). Ngoài ra, mọi cơ quan tài phá đều có thể áp dụng các quy phạm equity law và common law. Đứng trên phương diện này, người ta nói rằng có sự thống nhất giữa common law và equity law. Trong thời hiện đại, sự phân biệt giữa hai loại luật này đôi khi bị mờ nhạt.
Một số chế định pháp lý đặc thù của hệ thống pháp luật Anh
Chế định trust (uỷ thác)
Đóng góp quan trọng nhất của equity law đối với sự phát triễn của pháp luật Anh là việc tạo ra chế định trust. Chế định này được coi như là một phương tiện để tránh các loại thuế và nghĩa vụ. Vào thời kỳ Trung Cổ, người nào được thừa kế bất động sản thì phải thực hiện nghĩa vụ đặc biệt. Để tránh phải thực hiện các nghĩa vụ này, chủ sở hữu tài sản (người uỷ thác), ngay từ khi còn sống,đã trao tài sản cho người được tin cậy (người được uỷ thác), để người này chuyển tài sản cho người thừa kế (người thụ hưởng) sau khi chủ sở hữu chết. Bằng cách này, việc tiếp nhận tài sản của người thụ hưởng không bị coi là quan hệ thừa kế và không phải chịu thuế thừa kế và các nghĩa vụ khác. Theo common law, người được uỷ thác có đầy đủ các quyền của chủ sở hữu tài sản. Nếu người được uỷ thác vi phạm sự tin cậy của người uỷ thác, thì người thụ hưởng không thể dựa vào common law để bảo vệ lợi ích của mình, mà phải dùng đến equity law. Sự tôn trọng common law thể hiện ở chỗ: equity law không phủ nhận quyền sở hữu của người được uỷ thác, mà bắt buộc người được uỷ thác hành động vì lợi ích của người thụ hưởng.
Người ta thường áp dụng chế định trust trong các trường hợp sau:
- Bảo vệ lợi ích vật chất của người không có năng lực pháp luật. Chẳng hạn: người chưa thành niên không thể thừa kế bất động sản. Trong trường hợp này, trust tương tự như chế định đại diện.
- Các mối quan hệ pháp nhân (người đứng đầu doanh nghiệp chính là người được uỷ thác), và giao dịch thương mại.
- Giải quyết vấn đề thừa kế: ở Anh, trước khi trao tài sản cho người được thừa kế theo di chúc, phải trao tài sản cho một người quản lý tài sản (administrator) hoặc người thi hành di chúc (executor) – có vai trò như người được uỷ thác.
Cần lưu ý rằng chế định trust không bao gồm vấn đề hợp đồng. Đối với các luật gia Anh, trước đây là hợp đồng được thoả thuận được điều chỉnh bằng common law thông qua cách thức khởi kiện writ of assumpsit. Ngược lại, trust thuộc thẩm quyền riêng biệt của toà án equity law.
Chế định estoppel
Theo common law, để một giao kết hợp đồng có giá trị, thì trong hợp đồng phải có điều khoản consideration (cân nhắc lợi ích hay nghĩa vụ đối ứng) (xem Chương I, mục IV, 5). Điều đó nghĩa là: một lời hứa đơn thuần không có ý nghĩa gì đối với một cam kết, do đó không có giá trị ràng buộc. Trong một số tình huống cụ thể, thì điều này lại tỏ ra không hợp lý. Như vậy, equity law phải can thiệp vì lẽ công bằng, để bảo vệ lợi ích của bên đã tin tưởng vào lời hứa, từ đó sáng tạo ra chế định estoppel. Đây là một nguyên tắc pháp luật theo đó khi một người đã khẳng định điều gì thì sau đó không được bác bỏ. Như vậy, mặc dù theo common law lời hứa không có giá trị ràng buộc, nhưng equity law lại bắt buộc người đã hứa phải giữ lời hứa, và người được hứa có quyền đòi phía bên kia những gì họ đã hứa.
Nội dung của chế định này có ảnh hưởng đối với Công pháp quốc tế, nhất là khi pháp luật quốc tế được giải thích bởi các thẩm phán Toà án quốc tế đến từ hệ thống pháp luật Anh – Mỹ.
Quy phạm pháp luật và kỹ năng giải thích quy phạm pháp luật (kỹ năng distinction)
Về cơ bản, quy phạm pháp luật Anh được rút ra từ ratio decidendi của các bản án của Toà án cấp trên. Còn các tuyên bố không mang tính quyết định đối với giải pháp của tranh chấp – gọi là obiter dictum – không phải là quy phạm pháp luật. Như vậy, quy phạm pháp luật của hệ thống pháp luật Anh – Mỹ được rút ra từ bản án liên quan đến từng vụ việc cụ thể. Quy phạm pháp luật của hệ thống pháp luật Anh – Mỹ là quy phạm được sử dụng một cách trực tiếp để đưa ra giải pháp cho một tranh chấp. Còn quy phạm pháp luật của hệ thống pháp luật châu Âu lục địa là quy phạm do các nhà lập pháp sáng tạo ra hoặc được tạo ra từ học thuyết, được sử dụng để điều chỉnh xử sự của các chủ thể pháp luật, mang tính khái quát cho mọi trường hợp, mà không liên quan trực tiếp đến một trường hợp cụ thể nào. Hai loại quy phạm pháp luật của hai hệ thống hướng tới hai mục đích khác nhau. Quy phạm pháp luật của hệ thống pháp luật châu Âu lục địa có phạm vi rộng hơn quy phạm pháp luật của hệ thống pháp luật Anh – Mỹ.
Trong hệ thống pháp luật Anh – Mỹ, không có sự phân biệt giữa quy phạm mệnh lệnh va quy phạm tuỳ nghi. Hệ thống pháp luật châu Âu lục địa coi trọng quy phạm nội dung, còn hệ thống pháp luật Anh – Mỹ coi trọng quy phạm thủ tục. Ngày nay, pháp luật tố tụng Anh trở nên đơn giản hơn. Còn pháp luật nội dung cũng phong phú hơn, và chặt chẽ không kém gì pháp luật nội dung của hệ thống pháp luật châu Âu lục địa. Ngày càng nhiều luật gia Anh đến trường luật để học các nguyên tắc, cũng tương tự như các nguyên tắc của hệ thống pháp luật châu Âu lục địa. Tuy nhiên, tư duy mang tính truyền thống của luật gia Anh – coi trọng pháp luật tố tụng – vẫn còn thể hiện rất dai dẳng.
Giải thích quy phạm pháp luật – kỹ năng distinction trong việc áp dụng án lệ:
Việc áp dụng án lệ đòi hỏi thẩm phán phải phân tích, giải thích bản án trước đó. Trong phần lập luận (cơ sở pháp lý) (speech hoặc reasons) của bản án, thẩm phán phải phân biệt được ratio decidendi và obiter dictum. Kỹ năng này được gọi là distinction. Đây là kỹ năng cơ bản của các luật gia thuộc hệ thống pháp luật Anh – Mỹ, tương tự như kỹ năng giải thích luật của các luật gia thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa. Tuy nhiên, bản chất của distinction trong hệ thống pháp luật Anh – Mỹ và giải thích luật trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa không giống nhau.
Trong thực tế, vấn đề phân biệt ratio và dicta phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chủ quan của thẩm phán. Thẩm phán có thể cho rằng một lập luận nào đó không phải là ratio để phủ nhận tính bắt buộc của nó. Điều này đã tạo ra sự tuỳ tiện của thẩm phán. Bên cạnh đó, các thẩm phán còn có thể được tuỳ tiện trong việc xác định xem vụ việc đang giải quyết có tương tự hay không tương tự vụ việc trong án lệ. Nếu thẩm phán không tán thành việc áp dụng một án lệ cụ thể nào đó, thì thẩm phán sẽ né tránh bằng cách chỉ ra sự khác biệt giữa án lệ đó với vụ việc đang xem xét bằng mọi tình tiết có thể, và chỉ một chi tiết khác biệt cũng được coi là đủ. Một số phán quyết trước đây một thời được coi là những án lệ quan trọng, bằng cách này đã bị mất giá trị thực tiễn mà không cần có toà án nào tuyên bố một cách rõ ràng rằng các án lệ đó đã lạc hậu. Giới luật gia Anh cho rằng: việc chứng minh sự khác biệt giữa các vụ việc là nghệ thuật hơn là khoa học.
Việc xác định ratio của một án lệ sẽ rất khó khăn khi mà vụ việc được phán quyết bởi một hội đồng có nhiều thẩm phán, bởi vì các thẩm phán có thể có cùng một giải pháp nhưng đưa ra những lý do khác nhau. Việc tìm ra ratio sẽ còn phức tạp hơn nếu bản án ghi lại nhiều ý kiến bất đồng của các thẩm phán.
Như vậy, một kỹ năng distinction lý tưởng là phải vừa đảm bảo được sự an toàn pháp lý, vừa đảm bảo khả năng thích nghi với đòi hỏi của từng thời kỳ.
Hệ thống cơ quan tài phán ở Anh
Ở Anh có toà án cấp trên (cấp cao) và toà án cấp dưới (cấp thấp). Nhưng chỉ có toà án cấp trên mới có quyền tạo ra án lệ – với tư cách nguồn luật.
Toà án cấp dưới
- Các toà án cấp dưới chỉ có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, bao gồm các loại sau đây:
- Các toà dân sự (Toà dân sự sơ thẩm cấp 1) (County Court) tương tự như toà án cấp quận (ra đời trên cơ sở luật năm 1846), có thẩm quyền giải quyết tranh chấp với lợi ích dưới 5.000 Bảng, và ly hôn thuận tình. Có khoảng 400 toà án loại này. Tại các thành phố lớn, toá án có các thẩm phán chuyên nghiệp được đào tạo nghề luật, nhưng ở các vùng nông thôn, thẩm phán là những nhà công lý vì sự bình yên (Justice of Peace) không được trả lương và hạn chế về kiến thức pháp luật.
- Các toà hình sự (Toà hình sự sơ thẩm cấp 1) (Magistrate’s Court): có thẩm quyền giải quyết những vụ án liên quan đến tội phạm ít nghiêm trọng. Có khoảng 1.000 toà án loại này.
- Các toà hành chính.
Sơ đồ: Hệ thống Toà án Anh Quốc và xứ Wales
Toà án cấp trên
Các toà án cấp trên có thẩm quyền xét xử cả sơ thẩm và phúc thẩm.
Cấp sơ thẩm
- Toà án công lý cấp cao (Toà dân sự sơ thẩm cấp 2) (High Court of Justice), bao gồm:
- Toà án Nữ Hoàng (Queen’s Bench), bao gồm: Toà án hàng hải, Toà án thương mại.
- Chancery Court, bao gồm: Toà án về công ty, Toà án về phá sản, Toà án gia đình (toà này được thiết lập vào năm 1970, thay thế cho Toà lao cải, ly hôn và đăng cải).
Toà án công lý cấp cao có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ việc mang tính dân sự, trong những trường hợp mà lợi ích tranh chấp trên 5.000 Bảng.
- Toà án triều đình (Toà hình sự sơ thẩm cấp 2) (Crown Court) ra đời trên cơ sở Luật về các toà án (Courts Act) năm 1971, có thầm quyền xét xử sơ thẩm đối với các tội phạm hình sự nghiêm trọng (đòi hỏi phải có bồi thẩm đoàn 12 thành viên).
Cấp phúc thẩm:
Toà án phúc thẩm (Court of Appeal): bao gồm hai toà: Toà dân sự và Toà hình sự. Toà phúc thẩm có 16 thẩm phán.
Các toà án cấp trên hợp thành toà tối cao (Supreme Court of Judicature), nhưng cấp tối cao lại thuộc về các cơ quan khác.
Cấp tối cao:
Toà án tối cao nước Anh (Supreme Court of Judicature) chịu sự kiểm soát của Uỷ ban phúc thẩm Thượng nghị viện (Appellate Committee of the House of Lords, hay còn gọi là House of Lords) và Hội đồng cơ mật của Hoàng gia (Privy Council).
Trên thực tế, Uỷ ban phúc thẩm Thượng nghị viện (House of Lords) thường chỉ thực hiện thẩm quyền xét xử phúc thẩm, nghĩa là nó tự giới hạn trong việc giữ nguyên hoặc huỷ bỏ quyết định phúc thẩm mà không thay thế bằng phán quyết cuối cùng của chính mình. Trong trường hợp phải huỷ án, vụ việc thường được gửi trả cho toà sơ thẩm và toà sơ thẩm có nghĩa vụ xem xét lại một số khía cạnh pháp luật theo quan điểm của Uỷ ban phúc thẩm Thượng nghị viện (House of Lords).
Hội đồng cơ mật (Privy Council) là cơ quan tư vấn chính thức của Hoàng gia, bao gồm các luật gia đáng kính nhất của nước Anh và của khối thịnh vượng chung (Commomwealth). Hiện nay, một số quốc gia thuộc khối thịnh vượng chung vẫn tiếp tục công nhận Hội đồng cơ mật là cơ quan xét xử cấp cao nhất của quốc gia mình. Luật mà Hội đồng cơ mật áp dụng không chỉ đơn giản là pháp luật của nước Anh, mà là pháp luật của hệ thống pháp luật Anh – Mỹ. Các quyết định của Hội đồng cơ mật không có tính ràng buộc. Tuy nhiên, nó có tính thuyết phục rất lớn.
Ở Anh, bên cạnh những tranh chấp mang tính tư pháp, còn có những tranh chấp được gọi là gần như mang tính tư pháp. Chẳng hạn: tranh chấp hành chính, kinh tế, tranh chấp trong lĩnh vực thuế, đất đai, các vấn đề xã hội, thuê nhà, nghĩa vụ quân sự, v.v.. Các cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực này chịu sự kiểm soát của Toà án công lý cấp cao. Cần nhấn mạnh rằng: không có hệ thống tài phán hành chính độc lập trong pháp luật Anh.
Ở Anh, không có Viện công tố, không có Bộ tư pháp. Theo người Anh, sự có mặt của Viện công tố thể hiện sự bất bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bị buộc tội trong vụ án hình sự. Bên cạnh đó, Bộ tư pháp – sự hiện diện của đại diện quyền hành pháp, sẽ không phù hợp với tính độc lập của quyền tư pháp.
TỔNG KẾT: Các đặc điểm đặc trưng của pháp luật thông luật Anh
Các đặc điểm đặc trưng của Hệ thống thông luật hoàn toàn khác biệt với những đặc trưng của Hệ thống pháp luật Rô man – Giéc manh, nó bao gồm các đặc trưng tiêu biểu sau:
- Pháp luật thông luật Anh được phát triển không phải ở các Trường đại học, không phải bởi các nhà nghiên cứu luật học, không mang tính chất học thuyết, mà bởi các nhà luật học thực tiễn.
- Pháp luật Anh không phân chia thành các ngành luật, dù rằng các ngành luật nền tảng cơ bản được phát triển vững chắc. Các chế định pháp luật có trọng lượng, quan trọng hơn các ngành luật. Trong Hệ thống pháp luật này lĩnh vực luật hình thức được chú trọng hơn so với lĩnh vực luật nội dung. Đối với các thẩm phán, thủ tục giải quyết các tranh chấp pháp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, chiếm vị trí hàng đầu. Sự tồn tại của Tòa án bồi thẩm ở các nước thuộc hệ thống pháp luật này cũng góp phần tạo điều kiện cho sự phát triển của pháp luật tố tụng, bởi vì thẩm phán chỉ giải quyết những vấn đề pháp luật, còn những vấn đề sự kiện do các bồi thẩm giải quyết.
- Các quy phạm của thông luật được sinh ra trong quá trình Tòa án Hoàng gia giải quyết các vụ án cụ thể, do đó chúng ít mang tính chất trừu tượng và được tính toán cho việc giải quyết các tranh chấp cụ thể, chứ không được dự liệu cho cho công việc xác lập các quy tắc chung của hành vi.
- Án lệ tồn tại phổ biến trong Hệ thống pháp luật này. Các quy phạm của pháp luật do các thẩm phán xây dựng trong khi đưa ra các quyết định về các vụ án cụ thể.
- Hoàn toàn không có sự chồng khít giữa các án lệ xét xử và thực tiễn xét xử đã được hình thành. Các quy phạm chứa đựng trong các án lệ có thể thực hiện vai trò hai nghĩa: hình thành các luận điểm không có trong các văn bản quy phạm, giải thích và làm sáng tỏ các điều luật của pháp luật hiện hành.
- Án lệ là hiện tượng pháp luật thú vị bảo đảm tính hiệu quả, tính dự báo và tính thống nhất của thực tiễn xét xử. Tính hiệu quả được thể hiện ở việc nhanh chóng đưa ra các quyết định trên cơ sở của các vụ việc tương tự đã được xem xét trước đây. Tính dự báo được biểu hiện ở hai mặt: sự hiểu biết các án lệ đang có cho phép hoặc là thu hẹp số lượng các vụ việc đang được xem xét ở Tòa án hoặc là soạn thảo trong sự phù hợp với các án lệ đã ó trước đây nền tảng pháp luật của vụ án. Tính thống nhất có nghĩa là chỉ có một cách tiếp cận đối với vụ việc tương tự là cách tiếp cận trên cơ sở án lệ.
- Các văn bản quy phạm pháp luật với tư cách là nguồn của pháp luật đang dần trở nên chiếm ưu thế trong hệ thống thông luật so với trước đây. Mặc dù án lệ vẫn đóng vai trò là nguồn hàng đầu.
- Sự điều chỉnh hiện nay đối với quá trình giải quyết các vụ việc vẫn diễn ra ở Tòa án, dù rằng đã được ghi nhận ở mức độ đạo luật do các thẩm phán soạn thảo.
- Vai trò của khoa học pháp lý làm thay đổi mối tương quan hiện nay của thực tiễn xét xử và của các văn bản quy phạm pháp luật.
- Pháp điển hóa không đặc trưng cho hệ thống pháp luật thông luật. Ngay cả nếu có các Bộ luật, thì các Bộ luật cũng mang tính chất khác so với các Bộ luật thuộc Hệ thống pháp luật Rô man – Giéc manh. Các Bộ luật này thực chất là kết quả của sự củng cố pháp luật.
- Sự hiện có chế định Tòa án bồi thẩm là đặc điểm đặc trưng của Hệ thống pháp luật thông luật.
- Ở Anh, vai trò của các tập quán cổ xưa vẫn có ý nghĩa, bởi vì các tập quán này có đặc trưng là tính ổn định qua nhiều thế kỷ và sự thừa nhận của xã hội. Tiêu biểu nhất là lĩnh vực Hiến pháp, thay vì Hiến pháp thành văn, ở nước Anh tập quán Hiến pháp được coi là nguồn chủ yếu.
[1] Một số người gọi hệ thống pháp luậ này là hệ thống pháp luật Anh – Mỹ. Cách gọi này không hoàn toàn chính xác, bởi vì hệ thống luật này không chỉ tồn tại ở Anh – Mỹ, mà còn tồn tại ở rất nhiều nước trên thế giới.
[2] Trừ Tiểu bang New Orleans (đến năn 1812 trở thàn Tiểu bang Louisiana). Còn các Tiểu bang Texas, Califonia chỉ chịu ảnh hưởng của pháp luật Pháp, Tây Ban Nha, Mexico ở một số chế định đặc thù (chề độ tài sản vợ chồng, chế độ ruộng đất).
Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn về các vấn đề liên quan đến pháp luật:








