LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BTTHNHĐ THEO PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

15:59 | |

1.1. Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Bài nghiên cứu này dẫn quy định tại Điều 2 Luật trách nhiệm xâm phạm quyền Trung Quốc quy định về trách nhiệm BTTHNHĐ và khái niệm về trách nhiệm BTTHNHĐ theo Luật sư Lưu Thị Huế.

Trách nhiệm BTTHNHĐ ngoài những đặc điểm chung của trách nhiệm dân sự, còn có một số đặc điểm riêng như sau:

– Về cơ sở phát sinh trách nhiệm: Trách nhiệm BTTHNHĐ là một loại trách nhiệm dân sự phát sinh nằm ngoài ý chí của bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại. Trách nhiệm BTTHNHD phát sinh trên cơ sở do pháp luật quy định.

– Về điều kiện phát sinh: Trách nhiệm BTTHNHĐ phát sinh khi có đủ các điều kiện do pháp luật quy định. Điều 584 BLDS 2015 không ghi nhận yếu tố lỗi là yếu tố bắt buộc cấu thành trách nhiệm. Hành vi trái luật gây thiệt hại thì người thực hiện hành vi phải bồi thường để bù đắp cho người bị thiệt hại bất kể có lỗi hay không. Lỗi chỉ được xem xét để xác định mức độ BTTH của người gây thiệt hại.

– Về chủ thể chịu trách nhiệm: Trách nhiệm BTTH theo hợp đồng do các bên tham gia hợp đồng gánh chịu. Trách nhiệm BTTHNHĐ ngoài việc áp dụng đối với chủ thể thực hiện hành vi gây thiệt hại, còn áp dụng đối với chủ thể khác.

– Về mức độ bồi thường: Mức độ BTTH theo hợp đồng được xác định theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng. Nếu các bên không thỏa thuận thì mức độ bồi thường được xác định căn cứ vào thiệt hại thực tế trên cơ sở quy định của pháp luật. Còn đối với BTTHNHĐ thì về nguyên tắc các bên có quyền thỏa thuận về mức độ bồi thường, nếu không thỏa thuận được thì người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại.

1.2. Khái lược quy định  pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

1.2.1. Nguồn pháp luật điều chỉnh theo pháp luật Việt Nam

Nguồn luật điều chỉnh trách nhiệm BTTHNHĐ theo pháp luật Việt Nam, gồm có: Bộ luật dân sự năm 2015; Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2009; Nghị Quyết của Tòa án nhân dân tối cao; Văn bản do các cơ quan nhà nước phối hợp, thống nhất ban hành trong đó có nội dung quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

1.2.2. Nguồn luật điều chỉnh theo pháp luật Trung Quốc

Nguồn luật điều chỉnh trách nhiệm BTTHNHĐ theo pháp luật Trung Quốc gồm có: Quy tắc chung Luật dân sự Trung Quốc năm 1986; Luật trách nhiệm xâm phạm quyền Trung Quốc năm 201;  Luật bồi thường nhà nước năm 2010; Các văn bản giải thích tư pháp của Tòa án nhân dân tối cao Trung Quốc…

1.2.3. Khái lược quá trình hình thành và phát triển của quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ở Việt Nam

Chế định BTTHNHĐ dưới thời Lê, Nguyễn.

Quy định về BTTHNHĐ của hai bộ luật có một số đặc điểm như sau:

Thứ nhất, ở các bộ luật cổ, các quy định này có liên quan đến những yếu tố của TNDS như hành vi vi phạm, lỗi nhưng lại không có sự tách biệt giữa trách nhiệm trong hay ngoài khế ước.

Thứ hai, tổn thất vật chất là sự xâm phạm đến tính mạng con người, tài sản và theo đó vừa phải chịu chế tài hình sự là hình phạt tương ứng đồng thời còn phải BTTH cho người bị xâm hại các giá trị nói trên về thể chất và quyền sở hữu. Mặc dù có các quy định về trách nhiệm bồi thường tổn thất tinh thần nhưng những quy định này lại rất hạn chế.

Thứ ba, về lỗi, bộ luật đã đưa yếu tố lỗi vào làm căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường. Trong một số điều luật có sự phân biệt giữa lỗi cố ý và lỗi vô ý, tương ứng với mức độ trách nhiệm khác nhau.

Thứ tư, về mức độ bồi thường, do sự bất bình đẳng trong xã hội thời bấy giờ nên mức độ bồi thường còn được căn cứ dựa trên địa vị của chủ thể bị thiệt hại. Quy định về BTTH không mang tính chất tương đương, số tiền BTTH tùy từng trường hợp có thể cao gấp nhiều lần thiệt hại thực tế.

Thứ năm, về năng lực chủ thể. Về nguyên tắc chung, người nào gây thiệt hại thì phải chịu bồi thường. Tuy nhiên, các nhà làm luật thời bấy giờ cũng đã xem xét đến một số trường hợp người thứ ba phải chịu trách nhiệm thay thế.

Thứ sáu, các phương thức bồi thường chủ yếu gồm có: bồi thường bằng hiện vật, khôi phục hiện trạng ban đầu, bồi thường bằng tiền. Trong những điều luật, ngoài những khoản bồi thường mang tính chất dân sự còn kèm theo những hình phạt mang tính hình sự như xuy (đánh bằng roi), trượng (đánh bằng gậy), đồ (phục dịch, thực hiện một công việc), lưu (đi đày), tử (xử tử)…

Chế định BTTHNHĐ trước năm 1995.

BLDS Nam Kỳ giản yếu ra đời năm 1883, bộ dân luật Bắc Kỳ ra đời năm 1931 và tại Trung Kỳ là bộ dân luật Trung Kỳ (Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật) ra đời năm 1936. Trong các bộ luật này chế định bồi thường trách nhiệm BTTHNHĐ được định hình rõ nét và phát triển trong thời gian dài cho đến khi BLDS năm 1995 ra đời. Đặc biệt, trong bộ luật Trung Kỳ, Pháp đã đưa vào đó nhiều kỹ thuật lập pháp khá tiến bộ. Còn trong Bộ dân luật Bắc Kỳ và Dân dân luật Trung Kỳ đã có các quy định cụ thể về yếu tố làm phát sinh trách nhiệm BTTH đó là: có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi phạm, có lỗi, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và hậu quả xảy ra.

Thông tư 173/1972/TANDTC ngày 23/03/1972 đã ra đời để hướng dẫn xét xử về BTTHNHĐ. Thông tư đã chỉ ra đường lối, quan điểm, lý luận của các nhà làm luật đương thời về BTTHNHĐ. Phân biệt trách nhiệm BTTHNHĐ với trách nhiệm hình sự. Thông tư 73 đã xây dựng bộ khung các quy định về BTTHNHĐ và là tiền đề phát triển cho các quy định trong BLDS 2005, 2015.

Chế định BTTHNHĐ từ năm 1995 đến nay

Ở giai đoạn này, các văn bản pháp luật về BTTHNHĐ lần lượt ra đời. Trong đó phải nói đến một số văn bản quan trọng sau:  BLDS 1995 và nghị quyết số: 01/2004/NQ-HĐTP. Tiếp đó là BLDS 2005 và Nghị quyết: 03/2006/NQ-HĐTP, Luật BTTH nhà nước năm 2009. Gần đây nhất là BLDS 2015 mới được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/07/2016.

1.3. Điểm khác nhau giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng

Trách nhiệm BTTHNHĐ và BTTH theo hợp đồng có những điểm khác biệt quan trọng như sau:

Thứ nhất, trách nhiệm BTTH theo hợp đồng phát sinh trên cơ sở quan hệ hợp đồng và chịu sự điều chỉnh của pháp luật về hợp đồng. Trách nhiệm BTTHNHĐ phát sinh không dựa trên bất kỳ hợp đồng nào và chịu sự điều chỉnh của pháp luật về BTTHNHĐ.

Thứ hai, Trách nhiệm BTTH theo đồng phát sinh khi có sự vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc luật định, còn trách nhiệm BTTHNHĐ phát sinh khi có sự vi phạm nghĩa vụ luật định.

Thứ ba, đối với BTTH theo hợp đồng, mức bồi thường, phương thức bồi thường và các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bồi thường do các bên dự liệu và ghi nhận trong hợp đồng. Nếu không có thỏa thuận thì việc xác định trách nhiệm bồi thường sẽ được áp dụng theo quy định của pháp luật. Đối với trách nhiệm BTTHNHĐ, trước tiên các bên có quyền thỏa thuận về mức bồi thường. Nếu các bên không thỏa thuận được thì mức bồi thường được xác định dựa vào quy định của pháp luật về BTTHNHĐ.

Thứ tư, trong trách nhiệm hợp đồng lý do miễn trách nhiệm dân sự rất hạn chế, thông thường chỉ giới hạn ở sự kiện bất khả kháng. Tuy vậy, đương sự có thể dự liệu những trường hợp miễn trách nhiệm để đưa vào hợp đồng. Đối với trách nhiệm BTTHNHĐ, pháp luật thường quy định tương đối nhiều trường hợp miễn trách nhiệm, bao gồm các trường hợp miễn trách nhiệm thông thường và các trường hợp miễn trách nhiệm đặc biệt.

Thứ năm, về chủ thể bồi thường. Chủ thể bồi thường thiệt hại theo hợp đồng là các bên tham gia vào quan hệ hợp đồng. Chủ thể bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thể là người thực hiện hành vi xâm phạm quyền hoặc người khác.

Thứ sáu,về thẩm quyền tố tụng và thời hiệu. Đối với trách nhiệm BTTHNHĐ, Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Tòa án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại. Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp BTTH theo hợp đồng là Tòa án do các bên thỏa thuận. Nếu các bên không thỏa thuận thì Tòa án nơi thực hiện hợp đồng là Tòa án có thẩm quyền giải quyết.

Để lại một bình luận

Chat Zalo