Kiểm toán bắt buộc là kiểm toán báo cáo tài chính hằng năm, báo cáo quyết toán dự án hoàn thành và thông tin tài chính khác của các đơn vị nêu tại khoản 1 và khoản 2 Điều 37 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 — theo khoản 1 Điều 9 của chính luật này.
Hai mốc phải nhớ ngay: hợp đồng kiểm toán báo cáo tài chính năm phải ký chậm nhất ba mươi ngày trước ngày kết thúc kỳ kế toán năm (khoản 2 Điều 9), và khi nộp hoặc công khai báo cáo tài chính phải đính kèm báo cáo kiểm toán (khoản 3 Điều 9).
Doanh nghiệp nào thuộc diện kiểm toán bắt buộc
Điều 37 chia làm hai khoản, và hai khoản này khác nhau về đối tượng chứ không phải về mức độ bắt buộc — cả hai đều bắt buộc.
Khoản 1 — bắt buộc kiểm toán báo cáo tài chính hằng năm:
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài — nhóm đông nhất, và cũng là nhóm hay bỏ sót nhất ở năm đầu hoạt động;
- Tổ chức tín dụng thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng;
- Tổ chức tài chính, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm;
- Công ty đại chúng, tổ chức phát hành và tổ chức kinh doanh chứng khoán.
Khoản 2 — bắt buộc theo nguồn vốn nhà nước và theo nghề:
- Doanh nghiệp nhà nước (trừ doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thuộc bí mật nhà nước) — kiểm toán báo cáo tài chính hằng năm;
- Doanh nghiệp, tổ chức thực hiện dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A sử dụng vốn nhà nước — kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành, không phải báo cáo tài chính;
- Doanh nghiệp, tổ chức có vốn góp của Nhà nước và dự án dùng vốn nhà nước khác do Chính phủ quy định;
- Chính doanh nghiệp kiểm toán cũng phải được kiểm toán báo cáo tài chính hằng năm.
Khoản 3 Điều 37 nói rõ một điều hay bị hiểu nhầm: với các đơn vị ở điểm a, b, c khoản 2, việc thuê kiểm toán độc lập không thay thế cho việc kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước. Đã kiểm toán độc lập rồi vẫn có thể bị Kiểm toán Nhà nước vào.
Khoản 4 Điều 37: doanh nghiệp, tổ chức khác tự nguyện được kiểm toán. Điều 10 cũng chỉ dừng ở mức Nhà nước khuyến khích.
Ba chỗ hỏng hay gặp khi thuộc diện kiểm toán bắt buộc
Một — ký hợp đồng muộn. Khoản 2 Điều 9 đặt mốc ba mươi ngày trước ngày kết thúc kỳ kế toán năm. Doanh nghiệp có kỳ kế toán theo năm dương lịch thì hạn ký là 01/12. Ký sau mốc đó là đã vi phạm, dù cuộc kiểm toán vẫn diễn ra bình thường.
Hai — chọn nhầm đơn vị không đủ điều kiện. Điểm a khoản 3 Điều 13 nghiêm cấm chính đơn vị được kiểm toán chọn tổ chức, cá nhân không đủ điều kiện hành nghề kiểm toán để ký hợp đồng. Rủi ro ở đây kép: vừa là hành vi bị cấm, vừa nhận về một báo cáo không dùng được cho mục đích nộp cơ quan nhà nước. Trước khi ký, tra tên đơn vị trong danh sách doanh nghiệp kiểm toán mà Bộ Tài chính công khai theo điểm i khoản 2 Điều 11.
Ba — vướng điều cấm về tính độc lập. Điều 19 liệt kê tám trường hợp kiểm toán viên hành nghề không được thực hiện kiểm toán. Hai trường hợp doanh nghiệp hay vô tình tạo ra:
- Khoản 5: người đang hoặc đã ghi sổ kế toán, lập báo cáo tài chính, hoặc làm kiểm toán nội bộ cho đơn vị trong năm trước liền kề thì không được kiểm toán cho đơn vị đó. Thuê một bên vừa làm kế toán vừa làm kiểm toán là hỏng ngay từ đầu.
- Khoản 4: trong hai năm kể từ khi thôi giữ chức vụ quản lý, điều hành, thành viên ban kiểm soát hoặc kế toán trưởng của đơn vị.
Khoản 7 Điều 19 còn chặn cả quan hệ gia đình: bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột của kiểm toán viên mà có lợi ích tài chính đáng kể hoặc giữ chức vụ quản lý ở đơn vị được kiểm toán thì kiểm toán viên đó không được làm.
Hợp đồng kiểm toán bắt buộc phải có gì
Điều 42 buộc lập thành văn bản và liệt kê năm nội dung chính: tên và địa chỉ các bên; mục đích, phạm vi, nội dung dịch vụ và thời hạn thực hiện; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên; hình thức báo cáo kiểm toán và các hình thức khác thể hiện kết quả như thư quản lý; phí dịch vụ và chi phí khác.
Hai điều khoản nên soi kỹ khi rà hợp đồng:
- Phạm vi. Khoản 4 Điều 39 cấm đơn vị được kiểm toán hạn chế phạm vi các vấn đề cần kiểm toán. Một điều khoản hợp đồng thu hẹp phạm vi có thể dẫn thẳng tới ý kiến ngoại trừ.
- Bảo mật. Điều 43 đặt nghĩa vụ bảo mật lên doanh nghiệp kiểm toán, nhưng phạm vi ngoại lệ “theo quy định của pháp luật” cần được viết rõ trong hợp đồng để hai bên không hiểu khác nhau.
Về phí, Điều 44 để hai bên tự thỏa thuận theo nội dung và khối lượng công việc, thời gian và điều kiện làm việc, trình độ và uy tín của kiểm toán viên, mức độ trách nhiệm và thời hạn — tính theo giờ làm việc, trọn gói, hoặc phí cố định từng kỳ cho hợp đồng nhiều kỳ.
Nghĩa vụ của doanh nghiệp thuộc diện kiểm toán bắt buộc
Điều 39 đặt bảy nghĩa vụ lên đơn vị được kiểm toán. Nặng nhất là khoản 1: cung cấp thông tin, tài liệu đầy đủ, chính xác, trung thực, kịp thời, khách quan, và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tài liệu đã cung cấp. Đây là chỗ ranh giới trách nhiệm giữa doanh nghiệp và kiểm toán viên được vạch ra.
Khoản 2 Điều 39 cho doanh nghiệp một lối thoát khi không đồng ý với kiểm toán viên: không điều chỉnh sai sót theo ý kiến của doanh nghiệp kiểm toán thì phải giải trình bằng văn bản theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc đại diện chủ sở hữu. Không điều chỉnh mà cũng không giải trình mới là vi phạm.
Căn cứ pháp lý
- Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 ngày 29/3/2011.
- Điều 9 — kiểm toán bắt buộc: định nghĩa, mốc ký hợp đồng 30 ngày, nghĩa vụ đính kèm báo cáo kiểm toán.
- Điều 37 — đơn vị được kiểm toán: khoản 1 và khoản 2 là hai nhóm bắt buộc, khoản 3 không thay cho Kiểm toán Nhà nước, khoản 4 tự nguyện.
- Điều 10 — Nhà nước khuyến khích kiểm toán ngoài diện bắt buộc.
- Điều 19 — tám trường hợp kiểm toán viên hành nghề không được thực hiện kiểm toán.
- Điểm a khoản 3 Điều 13 — cấm đơn vị được kiểm toán chọn tổ chức, cá nhân không đủ điều kiện.
- Điều 39 — nghĩa vụ của đơn vị được kiểm toán. Điều 42 — hợp đồng kiểm toán. Điều 43 — bảo mật. Điều 44 — phí dịch vụ kiểm toán.
- Điều 46 — nội dung báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính; khoản 2: ngày ký báo cáo kiểm toán không được trước ngày ký báo cáo tài chính.
Các con số trong bài là mốc thời hạn và ngưỡng do luật định, không phải mức phí dịch vụ. Phí kiểm toán do hai bên thỏa thuận theo Điều 44.
Unilaw làm gì trong lĩnh vực này
Unilaw là tổ chức hành nghề luật sư, không phải doanh nghiệp kiểm toán và không cung cấp dịch vụ kiểm toán. Phần việc của luật sư nằm ở hai đầu của cuộc kiểm toán:
- Trước: xác định doanh nghiệp có thuộc diện kiểm toán bắt buộc theo Điều 37 hay không; rà hợp đồng kiểm toán theo Điều 42 và điều khoản bảo mật theo Điều 43; soát xung đột lợi ích theo Điều 19 trước khi ký để không phải làm lại cuộc kiểm toán.
- Sau: xử lý hệ quả pháp lý khi báo cáo kiểm toán có ý kiến ngoại trừ; soạn văn bản giải trình theo khoản 2 Điều 39; xử lý tranh chấp hợp đồng kiểm toán và trách nhiệm về tài liệu đã cung cấp theo khoản 1 Điều 39.
Tra bản án và án lệ liên quan tại kho bản án của Unilaw.
Bài liên quan trong chuyên mục
Chuyên mục: Pháp luật kế toán và kiểm toán · Quyết toán thuế · Thuế giá trị gia tăng
- ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DỊCH VỤ KẾ TOÁN: AI ĐƯỢC PHÉP LÀM — ba loại hình doanh nghiệp được phép và điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện.
- ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DỊCH VỤ KIỂM TOÁN — điều kiện để một doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh dịch vụ kiểm toán.
- TƯ VẤN THUẾ DOANH NGHIỆP – UNILAW — các đầu việc tư vấn thuế thường gặp của doanh nghiệp.
- KIỂM TRA THUẾ VÀ TRANH CHẤP THUẾ: THỜI HẠN, SỐ LẦN VÀ CĂN CỨ ẤN ĐỊNH — khi nào bị kiểm tra tại trụ sở, thời hạn 20 hay 40 ngày và chín trường hợp bị ấn định thuế.
Cần tư vấn cho một vụ việc cụ thể, xem trang luật sư thuế và tài chính của Unilaw.

