Hợp đồng giả cách

22:28 | |
I. ĐẶT VẤN ĐỀ: 

Hợp đồng được xác lập nhằm che giấu cho hợp đồng khác thì hợp đồng bị che giấu có hiệu lực pháp luật trừ trường hợp hợp đồng bị che giấu cũng thuộc trường hợp bị vô hiệu theo quy định. Hay còn được gọi là Hợp đồng giả cách.

II. ĐIỀU LUẬT DẪN CHIẾU:

Khoản 1 Điều 124 BLDS 2015; Đoạn 1 Điều 129 BLDS 2005; Điều 138 BLDS 1995.

1. Khoản 1 Điều 124 BLDS 2015:

Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan. […]”.

2. Đoạn 1 Điều 129 BLDS 2005:

“Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này.[…]”.

3. Điều 138 BLDS 1995:

“Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác, thì giao dịch giả tạo vô hiệu,còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này; nếu giao dịch được xác lập không nhằm mục đích làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên, thì giao dịch đó cũng bị coi là vô hiệu.”.

III. TÌNH HUỐNG DẪN CHIẾU:

Quyết định giám đốc thẩm số: 03/2020/DS-GĐT “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

1. A và B ký hợp đồng “Chuyển nhượng quyền sử dụng đất” với giá ghi trong hợp đồng là 200 triệu đồng. Giá trị thực tế của thửa đất được định giá là hơn 3 tỷ đồng. Bên mua cho rằng giá giao dịch thực tế đúng là 200 triệu như giá được ghi trong hợp đồng. Bên bán cho rằng giá các bên thỏa thuận là 3,2 tỷ đồng.

2. Các bên đều không có chứng cứ để chứng minh số tiền giao dịch thực tế. Tuy nhiên tại Đơn yêu cầu giám đốc thẩm bên mua cho rằng mình đã giao đủ 2,2 tỷ cho bên bán.

IV. CHÚ GIẢI ĐIỀU LUẬT:

Quy định “nếu giao dịch được xác lập không nhằm mục đích làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên, thì giao dịch đó cũng bị coi là vô hiệu.” trong BLDS 1995 đã bị lược bỏ trong các văn bản luật về sau. 

1. Quy định về Hợp đồng giả cách được quy định lần đầu tại Điều 138 BLDS 1995. Nội dung điều luật miêu tả khi giao dịch được xác lập nhằm mục đích che giấu một giao dịch khác thì giao dịch bị che giấu hay giao dịch “thực chất” có hiệu lực.

2. Trên nguyên tắc giao dịch dân sự phải tôn trọng ý chí đích thực của các bên. Dân luật có xu hướng bảo vệ tính thực chất, hay tính bản chất của giao dịch mà các bên mong muốn hướng đến lúc xác lập giao dịch. Vì thế trong trường hợp mục đích thật sự của các bên bị che đậy dẫn đến tranh chấp xảy ra. Dân luật có xu hướng thừa nhận sự tồn tại của ý chí đích thực đã bị che dấu và phủ nhận sự giả tạo. Điều này cũng giải thích cho nguyên tắc “Thiện chí” và “bình đẳng” được xem là kim chỉ nam xuyên suốt trong Dân luật.

3. Trong sự phát triển của quy định này, BLDS 1995 quy định rộng nhất trong việc áp dụng quy định về “giả cách”.  Khi đề cập đến việc giao dịch được xác lập không nhằm mục đích làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên đều vô hiệu. Phần này đã bị lược bỏ trong các quy định về sau. Việc xem xét một giao dịch không nhằm mục đích thực hiện các quyền và nghĩa vụ giao dịch đó đem lại mà nhằm mục đích khác như việc tẩu tán tài sản hay các trường hợp khác mà Luật chưa dự liệu được.

4. Tuy vậy các Luật về sau có xu hướng bó hẹp phạm vi khi lược bỏ quy định có tính phổ quát trên và liệt kê thêm trường hợp “giao dịch được xác lập nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì vô hiệu”. Như vậy Nhà lập pháp chấp nhận sự bó hẹp của điều luật để tránh sự diễn giải của người áp dụng pháp luật dẫn đến việc tùy tiện tuyên bố các giao dịch vô hiệu. Đồng thời sẽ bổ sung thêm các trường hợp vô hiệu khác trong tương lai bằng văn bản Luật chứ không có mong muốn sử dụng Án lệ nhằm bổ sung cho quy định này. 

5. Tác giả cho rằng nhà làm luật cần sự tin tưởng vào hệ thống Tư pháp và chấp nhận sự đa dạng, cho phép Cơ quan xét xử được quyền xác định các tình huống vô hiệu mà Luật chưa thể dự liệu nhằm tránh sự thay đổi liên tục của Điều luật trên.

V. CHÚ GIẢI TÌNH HUỐNG:

Toà tối cao xác định vì có sự giả tạo về giá chuyển nhượng nên giao dịch vô hiệu.

1. Tình huống trên Toà tối cáo xác định sự giả tạo trên 2 căn cứ. (1) Vì giá trong hợp đồng các bên không có sự thống nhất về tính xác thực. (2) Giá thị trường chênh lệch rất lớn so với giá ghi trong hợp đồng.

2. Đánh giá sự mâu thuẫn bên bán cho rằng giá thực tế là 3,2 tỷ. Bên mua cho rằng giá đúng theo hợp đồng là 200 triệu nhưng lại tự phủ nhận lời khai của mình trong Đơn yêu cầu giám đốc thẩm khi trình bày rằng đã giao đủ 2,2 tỷ. Như vậy dù chưa xác định được giá thực tế các bên muốn thỏa thuận ban đầu nhưng Tòa tối cao đã xác định được rằng giao dịch này nhằm mục đích che giấu cho giao dịch khác với giá trị lớn hơn nhằm mục đích được “giảm thuế”. Cho nên giao dịch giả tạo này bị vô hiệu.

3. Xét hợp đồng bị che giấu Toà tối cao cho rằng điều khoản về giá là điều khoản bắt buộc nên nếu không có điều khoản này thì hợp đồng bị vô hiệu toàn bộ. Có thể trong trường hợp này vì không có giá thoả thuận nên hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện.

4. Nếu suy luận theo hướng trên là chưa hợp lý, vì giá thị trường đã có thể xác định bằng việc giám định. Tòa án nên căn cứ vào giá thực tế này để công nhận giao dịch thực tế. Thêm vào đó đối tượng của hợp đồng này là “quyền sử dụng đất” và đối tượng này có thể thực hiện việc chuyển nhượng theo quy định.

Tìm hiểu thêm: Giao dịch dân sự do giả tạo

Về tác giả

ĐỖ NHƯ HƯNG

Tốt nghiệp ngành Luật Đại học Tôn Đức Thắng. Năm 2019, Luật sư Hưng học tập và nghiên cứu trong chương trình Thạc sĩ luật kinh tế tại Đại học Tôn Đức Thắng. Năm 2020, Luật sư Hưng tham gia lớp đào tạo kỹ năng hành nghề Luật sư tại Học viện tư pháp. Luật …

error: Content is protected !!