QUYỀN ĐƯỢC MIỄN TRÁCH NHIỆM TRONG HÀNG HẢI

00:07 | |

I.         ĐẶT VẤN ĐỀ: 

Người vận chuyển (NVC) uỷ thác việc chuyển hàng cho bên thứ 3 (Người vận chuyển thực tế – NVCTT).Thuyền trưởng, thuyền viên của tàu vô ý gây ra thiệt hại cho hàng hoá trên tàu thì trách nhiệm bồi thường thuộc về ai ?

II.         ĐIỀU LUẬT DẪN CHIẾU: 

Điều 147 BLHH 2015: Các bên liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển: Người thuê vận chuyển là người tự mình hoặc ủy quyền cho người khác giao kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển với người vận chuyển. Trường hợp hợp đồng vận chuyển theo chứng từ vận chuyển, người thuê vận chuyển được gọi là người giao hàng; 2. Người vận chuyển là người tự mình hoặc ủy quyền cho người khác giao kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển với người thuê vận chuyển; 3.Người vận chuyển thực tế là người được người vận chuyển ủy thác thực hiện toàn bộ hoặc một phần việc vận chuyển hàng hóa bằng đường biển;

Điều 151 BLHH 2015: Miễn trách nhiệm của người vận chuyển: Người vận chuyển không phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với mất mát, hư hỏng hàng hóa do việc tàu biển không đủ khả năng đi biển, nếu đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quy định tại Điều 150 của Bộ luật này. Trong trường hợp này, người vận chuyển có nghĩa vụ chứng minh đã thực hiện nhiệm vụ một cách mẫn cán; 2. Người vận chuyển được miễn hoàn toàn trách nhiệm, nếu tổn thất hàng hóa xảy ra trong trường hợp sau đây: a) Lỗi của thuyền trưởng, thuyền viên, hoa tiêu hàng hải hoặc người làm công của người vận chuyển trong việc điều khiển hoặc quản trị tàu; […].

III.         CHÚ GIẢI ĐIỀU LUẬT: 

Quyền được miễn trách nhiệm quy định tại Điều 151 BLHH 2015 tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau khi áp dụng:

Trường hợp 1: NVC ký kết hợp đồng vận chuyển với Người thuê vận chuyển (NTVC). Sau đó NVC uỷ thác việc vận chuyển cho người thứ 3 thực hiện việc vận chuyển, người này được gọi là Người vận chuyển thực tế (NVCTT). Khi NVCTT chuyển hàng thì Thuyền viên của tàu vô ý gây hư hỏng hàng hoá. Trong trường hợp này NVC được miễn trách nhiệm theo Điều 151 BLHH 2015. Trong khi đó NVCTT phải chịu bồi thường thiệt hại theo quy định.

Trường hợp 2: NVC ký kết hợp đồng vận chuyển với NTVC. NVC tự mình thực hiện việc vận chuyển, trong lúc vận chuyển Thuyền viên của tàu vô ý gây thiệt hại cho hàng hoá. Trong trường hợp này NVC đồng thời cũng là NVCTT, vì thế NVC phải chịu trách nhiệm bồi thường chứ không được miễn trách nhiệm theo quy định của Điều 151.

Trường hợp 3: NVC ký kết hợp đồng vận chuyển với NTVC. NVC uỷ thác cho nhiều NVCTT vận chuyển hàng hoá. Trong đó NVCTT dùng tàu biển được thuê để vận chuyển hàng hoá và ở mỗi chặn tàu thì hàng hoá được chuyển bằng NVCTT khác nhau. Trong trường hợp này nếu hàng hoá bị thiệt hại do Thuyền viên của NVCTT ở giai đoạn nào thì NVCTT ở giai đoạn đó phải chịu trách nhiệm bồi thường. NVC được miễn trách nhiệm. Đồng thời những NVCTT ở các giai đoạn khác không phải chịu trách nhiệm bồi thường.

Trong thực tiễn còn một quan điểm rằng: NVC và NVCTT đều được miễn trách nhiệm bồi thường khi hàng hoá bị mất mát hư hỏng do lỗi của Thuyền viên gây ra. Đồng thời Thuyền viên gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường.

Tuy nhiên, Điều luật trên được đặt ra trong bối cảnh khi NVC không trực tiếp thực hiện việc vận chuyển mà uỷ thác cho NVCTT thực hiện công việc. Nên NVC không thể kiểm soát được thực tế về hành vi của Thuyền viên trên tàu, nên Điều 151 quy định miễn trách nhiệm cho NVC trong trường hợp trên. Do đó nếu NVC tự mình thực hiện việc vận chuyển thì sẽ không được áp dụng quyền miễn trách theo quy định trên. 

Tìm hiểu thêm: Miễn trách nhiệm chủ tàu

Về tác giả:

Posts not found

error: Content is protected !!