Khiếu nại thương mại

23:04 | |

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Khi hết thời hạn khiếu nại thương mại, thì bên có quyền lợi bị xâm phạm vẫn được quyền khởi kiện yêu cầu toà án bảo vệ quyền lợi của mình. Đồng thời toà án phải xem xét và giải quyết về các thiệt hại được viện dẫn và chứng minh của bên có quyền.

II. ĐIỀU LUẬT DẪN CHIẾU: Khoản 1 Điều 124 Bộ luật dân sự 2015; Đoạn 1 Điều 129 Bộ luật dân sự 2005; Điều 138 Bộ luật dân sự 1995.

1. Điều 40 Luật thương mại 2005: “Trách nhiệm đối với hàng hoá không phù hợp với hợp đồng (Chế định về hợp đồng mua bán hàng hoá); trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác, trách nhiệm đối với hàng hóa không phù hợp với hợp đồng được quy định như sau: 1. Bên bán không chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào của hàng hoá nếu vào thời điểm giao kết hợp đồng bên mua đã biết hoặc phải biết về những khiếm khuyết đó; 2. Trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, trong thời hạn khiếu nại theo quy định của Luật này, bên bán phải chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào của hàng hoá đã có trước thời điểm chuyển rủi ro cho bên mua, kể cả trường hợp khiếm khuyết đó được phát hiện sau thời điểm chuyển rủi ro; 3. Bên bán phải chịu trách nhiệm về khiếm khuyết của hàng hóa phát sinh sau thời điểm chuyển rủi ro nếu khiếm khuyết đó do bên bán vi phạm hợp đồng.”

Điều 68 Luật thương mại 1997 đối chiếu Điều 40 Luật thương mại 2005 : Trách nhiệm của người bán đối với hàng không phù hợp với hợp đồng (Chế định về hợp đồng mua bán hàng hoá); Người bán phải chịu trách nhiệm về việc hàng không phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng, trừ trường hợp người bán chứng minh được là mình không có lỗi. Trường hợp hàng không phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng, người bán phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về thiệt hại phát sinh, dù người bán biết hoặc không biết về thiệt hại đó.

2. Điều 46 Luật thương mại 2005: “Nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hoá (Chế định về hợp đồng mua bán hàng hoá); 1. Bên bán không được bán hàng hóa vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Bên bán phải chịu trách nhiệm trong trường hợp có tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa đã bán. 2. Trường hợp bên mua yêu cầu bên bán phải tuân theo bản vẽ kỹ thuật, thiết kế, công thức hoặc những số liệu chi tiết do bên mua cung cấp thì bên mua phải chịu trách nhiệm về các khiếu nại liên quan đến những vi phạm quyền sở hữu trí tuệ phát sinh từ việc bên bán đã tuân thủ những yêu cầu của bên mua.”

Điều 69 Luật thương mại 1997 đối chiếu Điều 46 Luật thương mại 2005: “Nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu đối với hàng hoá đã bán (Chế định về hợp đồng mua bán hàng hoá); Người bán có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu cho người mua đối với hàng hoá đã bán để người mua không bị người thứ ba tranh chấp. Sau thời điểm chuyển quyền sở hữu, người bán không được có bất kỳ hành vi nào làm phương hại tới quyền sở hữu hàng hoá của người mua.”

3. Điều 47 Luật thương mại 2005: “Yêu cầu thông báo (Chế định về hợp đồng mua bán hàng hoá); 1. Bên bán mất quyền viện dẫn quy định tại khoản 2 Điều 46 của Luật này nếu bên bán không thông báo ngay cho bên mua về khiếu nại của bên thứ ba đối với hàng hoá được giao sau khi bên bán đã biết hoặc phải biết về khiếu nại đó, trừ trường hợp bên mua đã biết hoặc phải biết về khiếu nại của bên thứ ba. 2. Bên mua mất quyền viện dẫn quy định tại Điều 45 và khoản 1 Điều 46 của Luật này nếu bên mua không thông báo ngay cho bên bán về khiếu nại của bên thứ ba đối với hàng hoá được giao sau khi bên mua đã biết hoặc phải biết về khiếu nại đó, trừ trường hợp bên bán biết hoặc phải biết về khiếu nại của bên thứ ba.”

4. Điều 237 Luật thương mại 2005: “Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics (Hợp đồng Logistics); 1. Ngoài những trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không phải chịu trách nhiệm về những tổn thất đối với hàng hoá phát sinh trong các trường hợp sau đây: đ) Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về khiếu nại trong thời hạn mười bốn ngày, kể từ ngày thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics giao hàng cho người nhận; e) Sau khi bị khiếu nại, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về việc bị kiện tại Trọng tài hoặc Toà án trong thời hạn chín tháng, kể từ ngày giao hàng.”

5. Điều 318 Luật thương mại 2005: Thời hạn khiếu nại (Chế định chung về giải quyết tranh chấp); Trừ trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 237 của Luật này, thời hạn khiếu nại do các bên thỏa thuận, nếu các bên không có thoả thuận thì thời hạn khiếu nại được quy định như sau: 1. Ba tháng, kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về số lượng hàng hoá; 2. Sáu tháng, kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về chất lượng hàng hoá; trong trường hợp hàng hoá có bảo hành thì thời hạn khiếu nại là ba tháng, kể từ ngày hết thời hạn bảo hành; 3. Chín tháng, kể từ ngày bên vi phạm phải hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc trong trường hợp có bảo hành thì kể từ ngày hết thời hạn bảo hành đối với khiếu nại về các vi phạm khác.”.

Điều 241 Luật thương mại 1997 đối chiếu Điều 318 Luật thương mại 2005: Thời hạn khiếu nại (Chế định chung về giải quyết tranh chấp); 1- Thời hạn khiếu nại là thời hạn mà bên có quyền lợi bị vi phạm có quyền khiếu nại đối với bên vi phạm. Quá thời hạn khiếu nại, bên có quyền lợi bị vi phạm mất quyền khởi kiện tại Trọng tài, Toà án có thẩm quyền; 2- Thời hạn khiếu nại do các bên thỏa thuận trong hợp đồng; trong trường hợp không có thoả thuận thì thời hạn khiếu nại được quy định như sau: a) Ba tháng kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về số lượng hàng hoá; b) Sáu tháng kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về quy cách, chất lượng hàng hoá; trong trường hợp hàng hoá có bảo hành thì thời hạn khiếu nại là ba tháng kể từ ngày hết thời hạn bảo hành; c) Ba tháng kể từ khi bên vi phạm phải hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng đối với khiếu nại về các hành vi thương mại khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 170 của Luật này.

6. Ðiều 39 CISG: “1. Người mua bị mất quyền khiếu nại về việc hàng hóa không phù hợp hợp đồng nếu người mua không thông báo cho người bán những tin tức về việc không phù hợp đó trong một thời hạn hợp lý kể từ lúc người mua đã phát hiện ra sự không phù hợp đó. 2. Trong mọi trường hợp, người mua bị mất quyền khiếu nại về việc hàng không phù hợp với hợp đồng nếu họ không thông báo cho người bán biết về việc đó chậm nhất trong thời hạn 2 năm kể từ ngày hàng hóa đã thực sự được giao cho người mua trừ phi thời hạn này trái ngược với thời hạn bảo hành quy định trong hợp đồng.”

7. Ðiều 43 CISG: “1. Người mua mất quyền khiếu nại dựa vào các quy định của điều 41 và điều 42 nếu như họ không thông báo cho người bán những tin tức về tính chất của quyền hạn hay yêu sách của người thứ ba, trong một thời hạn hợp lý kể từ lúc người mua đã biết hay đáng lẽ phải biết về quyền hoặc yêu sách đó. 2. Người bán không có quyền viện dẫn những sự quy định từ điểm 1 nêu trên nếu người bán đã biết về quyền hạn hay yêu sách của người thứ ba và về tính chất của quyền hạn hay yêu sách đó.”.

III. CHÚ GIẢI ĐIỀU LUẬT

“Khiếu nại thương mại” dùng để phân biệt với hành vi “khiếu nại” theo quy định của Luật khiếu nại. Đối tượng của “Khiếu nại thương mại” là chất lượng, khiếm khuyết, mất mác hoặc sự tổn hại của bên mua đối với hàng hoá, dịch vụ. Như vậy “Khiếu nại thương mại” là việc bên mua hay bên sử dụng dịch vụ yêu cầu bên bán, bên cung cấp dịch vụ (sau đây gọi là bên bán) ghi nhận, khắc phục và bồi thường các thiệt hại nếu có.

1. Hậu quả pháp lý của việc khiếu nại rằng bên bán phải xem xét và đưa ra hướng giải quyết đối với yêu cầu khiếu nại của bên mua trong trường hợp bị từ chối bên mua có quyền khởi kiện. Tuy nhiên việc không khiếu nại vẫn không làm mất đi quyền khởi kiện của bên mua. Điều này có lịch sử thay đổi khá cụ thể trong quá trình phát triển của Thương luật.

2. Theo đó quy định về khiếu nại được xem xét dưới hai góc độ: (1) quy định chung về khiếu nại và hậu quả pháp lý của việc khiếu nại; (2) quy định riêng về khiếu nại trong từng chế định hợp đồng thương mại cụ thể. Dưới góc độ thứ 1 Luật TM 1997 tiếp cận theo hướng nếu bên mua không thực hiện việc khiếu nại thì sẽ mất quyền khởi kiện Điều 241 Luật thương mại 1997 đối chiếu Điều 318 Luật thương mại 2005: Thời hạn khiếu nại (Chế định chung về giải quyết tranh chấp); 1- Thời hạn khiếu nại là thời hạn mà bên có quyền lợi bị vi phạm có quyền khiếu nại đối với bên vi phạm. Quá thời hạn khiếu nại, bên có quyền lợi bị vi phạm mất quyền khởi kiện tại Trọng tài, Toà án có thẩm quyền; […]”. Cách tiếp cận này tương đồng với quy định của CISG khi người mua mất quyền “khiếu nại” hay quyền  “viện dẫn” thiệt hại nếu không thông báo cho bên bán về các khiếm khuyết trong thời hạn quy định.

3. Đến Luật thương mại 2005 quy định chung về hậu quả pháp lý của việc khiếu nại, khi ở phần giải quyết tranh chấp Luật TM chỉ đề cập đến thời hạn khiếu nại mà không đề cập đến bất kỳ quy định định nào về hậu quả chung về khiếu nại. Trong khi đó Luật lại phát triển các quy định khiếu nại trong từng chế định thương mại cụ thể. Như việc quy định sau thời gian 14 ngày mà thương nhân kinh doanh Logistics không nhận được khiếu nại của bên sử dụng dịch vụ thì bên cung cấp dịch vụ sẽ được miễn trách nhiệm đối với các thiệt hại của hàng hoá theo điểm đ Khoản 1 Điều 237 LMT 2005. Đồng thời trong các chế định về hợp đồng mua bán hàng hoá cũng quy định về việc bên mua mất quyền viện dẫn khi không khiếu nại.

4. Cách tiếp cận này của Luật thương mại hợp lý nhưng chưa rõ ràng bởi lẽ. Luật thương mại 1997 đã quy định về việc mất quyền khởi kiện khi không khiếu nại trong thời hạn luật định, để tránh nhầm lẫn giữa thời hiệu khởi kiện và thời hạn khiếu nại thì luật TM 2005 đã lược bỏ quy định này, nhưng lại không đưa ra khẳng định về việc bên không khiếu nại trong thời hạn luật định có bị mất quyền khởi kiện hay không. Điều này dẫn đến việc Toà án vẫn có xu hướng cho rằng việc không khiếu nại đúng hạn sẽ mất quyền khởi kiện.

5. Việc phân định rạch ròi giữa quyền khiếu nại và quyền yêu cầu toà án bảo vệ là hai vấn đề tách biệt. Đối với khiếu nại bên xem xét là bên bán, trong khi quy định này tồn tại nhằm đáp ứng cho thực tế rằng quan hệ thương mại là quan hệ cộng sinh cùng có lợi và việc biết được các khiếm khuyết sớm sẽ hạn chế rủi ro và thiệt hại lớn, đồng thời nhờ việc truyền thông này thì các quan hệ thương mại mới không bị gián đoạn. 

6. Việc bên mua bị mất quyền khởi kiện do không “khiếu nại” đúng hạn sẽ làm lẫn lộn với thuật ngữ “thời hiệu khởi kiện” vì thế việc bãi bỏ quy định về việc mất quyền khởi kiện là hợp lý. Đồng thời việc sửa đổi hậu quả pháp lý từ mất quyền khởi kiện như Luật thương mại 1997 sang hậu quả rằng bên bán được miễn trách nhiệm hay bên bên mua không được viện dẫn về thiệt hại nếu không khiếu nại đã mang tính hợp về mặt thuật ngữ. Tuy nhiên trong quan hệ thương mại, có nhiều quan hệ giữa các thương nhân mà thương luật chưa lường trước, nên việc lược bỏ hậu quả pháp lý chung của việc khiếu nại là điều chưa thật hợp lý, vì thế dù cần rạch ròi giữa thời hiệu khởi kiện và thời hạn khiếu nại nhưng Luật cũng cần quy định hậu quả pháp lý chung đối với việc hết “thời hạn khiếu nại”.

IV. TÌNH HUỐNG DẪN CHIẾU:

Quyết định giám đốc thẩm Số: 12/2021/KDTM-GĐT Ngày 09/7/2021 V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.

1. A (bên bán) và B (bên mua) ký hợp đồng “Mua bán hàng hoá”. Hai bên thoả thuận rằng khi hàng hoá bị lỗi thì bên mua có nghĩa vụ phải gửi khiếu nại trong 30 ngày để A xem xét thu hồi và thay đổi hàng hoá. Tuy nhiên Bên mua khi phát hiện hàng hóa lỗi chỉ thông báo qua tin nhắn Zalo.

2. Bên A cho rằng vì B đã không khiếu nại bằng văn bản trong thời hạn thỏa thuận nên mất quyền viện dẫn trách nhiệm bồi thường của bên A. Tòa cấp phúc thẩm chấp nhận lập luận của A. Tuy nhiên, toà cấp cao giám đốc thẩm vụ án và cho rằng dù không khiếu nại nhưng bên có quyền lợi bị xâm phạm vẫn có quyền khởi kiện và toà án phải xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. 

V. CHÚ GIẢI TÌNH HUỐNG:

Toà cấp cao xác định việc toà phúc thẩm cho rằng bên mua không khiếu nại trong thời hạn luật định nên không được yêu cầu xem xét về thiệt hại là sai. 

1. Toà cấp cao lập luận tuy rằng thời hạn khiếu nại đã hết nhưng không có quy định về việc bên mua mất quyền yêu cầu bảo vệ cho thiệt hại mà mình bị gây ra, đồng thời các bên cũng không quy định về việc miễn trách nhiệm do không khiếu nại đúng hạn. Nên Toà phúc thẩm không xem xét yêu cầu bồi thường của bên mua là sai.

2. Trường hợp này cấp phúc thẩm đã bị rập khuôn theo hơi hướng của Luật TM 1997 và đưa ra kết luận của việc bên mua không được viện dẫn về thiệt hại khi không khiếu nại đúng hạn mà không có lập luận nào xác đáng theo Luật thương mại 2005 đồng thời các bên cũng không có thoả thuận về hậu quả của việc không khiếu nại nên Tòa cấp cao đã huỷ bỏ lập luận đó đồng thời khẳng định đường lối của Luật thương mại 2005 không quy định về hậu quả chung của việc khiếu nại không đúng hạn.

Tìm hiểu thêm về: BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA LUẬT THƯƠNG MẠI NĂM 2005

Tác giả: Ls. Đỗ Như Hưng
 

error: Content is protected !!