THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG

01:23 | |

I.         Tổng quan thực trạng thực hiện quyền và nghĩa vụ của Luật sư trong hoạt động tố tụng

Trong những năm gần đây quy định đặt trọng tâm việc tranh tụng làm tiền đề quan trọng để Toà án các cấp giải quyết các vụ án. Với tính đặc thù là bên phản biện hay vai trò chứng minh và tranh tụng của Luật sư, đã dẫn đến sự thay đổi một cách căn bản hệ thống các quy định về quyền và nghĩa vụ của Luật sư trong hoạt động tố tụng tại Việt Nam. Việc ghi nhận sự vận dụng các quy định này có tính chất quan trọng nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Ngoài những điều đã đạt được, một số điểm hạn chế trong việc áp dụng quy định về quyền và nghĩa vụ của Luật sư đã không cho phép Luật sư thực hiện trọn vẹn chức năng của mình. Cụ thể là các vấn đề như sau:

II.         Thực trạng đặc trưng thực hiện quyền và nghĩa vụ của Luật sư trong hoạt động TTHS và hướng hoàn thiện

1.    Việc chỉ sử dụng thuật ngữ “Người bào chữa” trong phạm vi hẹp là chưa hợp lý

Tuy BLTTHS 2015 đã mở rộng giới hạn phạm vi của người bào chữa khi Luật sư được phép tham gia kể từ thời điểm người bị bắt, giữ có mặt tại cơ quan điều tra là điều hợp lý. Tuy nhiên đối với người bị tố cáo thì Luật sư không tham gia với tư cách là người bào chữa mà lại tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Điều này chưa tạo được sự thống nhất và chưa tạo đủ điều kiện để người bị tố cáo, kiến nghị khởi tố được bảo vệ tốt nhất quyền lợi của mình. 

Vì thế kiến nghị cần mở rộng khái niệm người bào chữa cho Luật sư tham gia TTHS để bảo vệ cho người bị tố cáo hoặc kiến nghị khởi tố. 

2.    Quyền nhờ Luật sư bào chữa và quyền đăng ký người bào chữa còn chưa triệt để

Để trở thành người bào chữa cho người bị buộc tội (người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) trong một vụ án, Luật sư phải được CQTHTT tiếp nhận việc đăng ký bào chữa. Điều này chưa thảo đáng. Bởi lẽ, theo thủ tục cũ Luật sư phải được cấp giấy chứng nhận người bào chữa và các CQTHTT được quyền cấp hoặc không và trong mỗi giai đoạn tố tụng thì giấy này được cấp lại, điều này gây ra rất nhiều bất tiện cho Luật sư khi tham gia tố tụng. Và thời gian cấp là trong 3 ngày CQTHTT phải xem xét cấp. Việc xem xét và việc cấp là hai khái niệm khác nhau việc xem xét trong thời gian bao lâu chưa được nêu rõ.

Nhằm tháo gỡ vướng mắt đó BLTTHS 2015 quy định về việc Đăng ký bào chữa, việc này vẫn mang nặng tính thủ tục và Luật sư vẫn bị làm khó khi CQTHTT trì hoãn việc đăng ký. Trong một số trường hợp người nhà của bị can mời Luật sư nhưng bị can vì một số tác động nên từ chối Luật sư. BLTTHS 2015 buộc NTHTT phải cùng Luật sư gặp bị can để xác nhận về việc từ chối Luật sư đây là điểm tiến bộ.

Đề xuất: Cần xem xét bãi bỏ thủ tục đăng ký, Luật sư khi tham gia tố tụng chỉ cần xuất trình thẻ Luật sư và giấy yêu cầu Luật sư thì đương nhiên trở thành người bào chữa. Trong trường hợp sau khi tham gia tố tụng CQTHTT phát hiện Luật sư không đủ điều kiện để tham gia tố tụng thì phải ra văn bản đình chỉ tư cách tham gia của Luật sư và quyết định này được quyền khiếu nại theo quy định.

3.    Luật sư tham gia tố tụng trong giai đoạn giải quyết tin báo tố giác tội phạm và có mặt khi bị can bị lấy lời khai và đối chất

Trước đòi hỏi của thực tiễn BLTTHS 2015  đã chấm dứt việc CQTHTT thường không cho Luật sư tham gia trong giai tiền khởi tố như trước đây. Giai đoạn giải quyết tin báo tố giác tội phạm là giai đoạn trước khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can và sự có mặt của Luật sư đã được quy định tại Điều 83 BLTTHS 2015, tại giai đoạn này Luật sư tham gia với tên gọi là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. 

Tuy nhiên trong thực tiễn không phải lúc nào người bị bắt, bị giữ cũng có mặt tại cơ quan điều tra, trong một số trường hợp Công an phường, xã là nơi người bị bắt giữ bị áp giải đến. Tại đây Luật sư chưa được tham gia tố tụng do việc đăng ký bào chữa thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra do đó quyền con người có thể bị xâm phạm trong giai đoạn này. Từ đó, nên có quy định Luật sư được tham gia kể từ thời điểm thân chủ bị bắt hoặc bị giữ. Luật sư chỉ cần xuất trình thẻ Luật sư và chứng minh về lời yêu cầu của người có quyền về việc nhờ Luật sư bào chữa.

Đối với quyền Luật sư được có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Điều này chưa tạo thuận lợi cho Luật sư vì trong thời điểm này, bị can có quyền nhờ Luật sư tư vấn pháp luật và Luật sư cũng phải có quyền được hỏi bị can để làm rõ các tình tiết có lợi cho bị can.

4.    Quyền tranh luận tại phiên toà của Luật sư trong TTHS

BLTTHS 2015 quy định quyền bình đẳng của Luật sư với những người tham gia tranh tụng tại phiên tòa một cách cụ thể. Theo đó Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án.

Tuy nhiên Kiểm sát viên thường tránh tranh luận, tuy BLTTHS 2015 đã quy định Kiểm sát viên phải tranh luận đến cùng. Song thế nào là tranh luận đến cùng thì chưa được làm rõ và Kiểm sát viên thường nhận định mình đã tranh luận đủ. Vì thế phải có quy định Thẩm phán chủ toạ phải tổng kết các vấn đề đã trành luận và yêu cầu các bên tiếp tục tranh luận các vấn đề mà Hội đồng xét xử thấy chưa rõ.

5.    Nghĩa vụ góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan nhưng không làm xấu đi tình trạng của bị can, bị cáo

Trong hoạt động tố tụng, Luật sư có chức năng gỡ tội cho bị can, bị cáo và luôn độc lập với chức năng buộc tội của CQTHTT, quy định này đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được khách quan công bằng, đúng pháp luật, tránh cách nhìn phiến diện một chiều luôn buộc tội của CQTHTT. 

Dù phải tôn trọng sự thật khách quan nhưng Luật sư không được phép làm nghiêm trọng thêm tình trạng của bị can, bị cáo mà mình đang bảo vệ. Điều đó thể hiện qua luận cứ bảo vệ của Luật sư không được làm tăng nặng mức hình phạt hay từ bỏ các quyền lợi khác của bị can.

Có quan điểm cho rằng Luật sư chỉ cần không làm xấu đi tình trạng bị cáo mà mình bảo vệ còn bị cáo khác thì không có quy định nên sẽ không ràng buộc Luật sư. Điều này gây ra nhiều quan điểm trái chiều. Đồng thời trong trường hợp Luật sư nhận thấy rằng CQTHTT xác định sai hành vi phạm tội nhưng việc xác định như vậy lại có lợi cho bị cáo vì khung hình phạt thấp hơn. Trong trường hợp này Luật sư nếu tuân thủ không làm xấu đi tình trạng của bị cáo thì lại vi phạm nguyên tắc độc lập và tôn trọng sự thật khách quan.

Đề xuất: Cần quy định cụ thể việc Luật sư không được làm xấu đi tình trạng của thân chủ mà mình bảo vệ. Đồng thời nguyên tắc này được ưu tiên áp dụng khi có mâu thuẫn với các quy định khác.

Xem thêm: QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG

Vi phạm quy định phòng cháy khi đã mua bảo hiểm cháy nổ

Người mua bảo hiểm cháy nổ vi phạm điều kiện bảo hiểm đã thoả thuận. Theo đó bên mua bảo hiểm cam kết luôn tuân thủ quy định về phòng cháy. Tuy nhiên, nguyên nhân vụ cháy được xác định là do người mua bảo hiểm vi phạm quy định về phòng chống cháy nổ. …

MẤT QUYỀN PHẢN ĐỐI TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI

Nội dung tranh chấp Tại toà án A cho rằng hội đồng trọng tài ra phán quyết xác định. Việc A làm việc cho công ty đối thủ của B trong thời hạn 5 năm kể từ ngày hợp đồng lao động chấm dứt là vi phạm thoả thuận. A có nghĩa vụ bồi thường …

BẢO MẬT THÔNG TIN TRONG HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

Nội dung tranh chấp:  A ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với công ty B. Tại phụ lục 01 có nội dung thoả thuận bảo mật thông tin (NDA) rằng sau khi chấm dứt hợp đồng lao động A sẽ không làm việc cho công ty đối thủ trong thời gian 5 năm. …

BỒI THƯỜNG DO XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ

I.         Nội dung tranh chấp A là chủ sở hữu quyền tác giả đối với phần mềm z. B sử dụng phần mềm trên các trang thiết bị của mình mà không sinh phép và không mua bản quyền. A khởi kiện yêu cầu B chấm dứt hành vi vi phạm; bồi thường thiệt hại và …

THOẢ THUẬN LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM BẢO HIỂM

I.  Nội dung tranh chấp A bán hàng đông lạnh là xoài cho B theo phương thức CIF. A mua bảo hiểm của C cho lô hàng trên. Trong lúc vận chuyển hàng hoá bị hỏng do không được bảo quản trong nhiệt độ thích hợp, lỗi dẫn đến hư hỏng không phải do máy …

QUAN HỆ TRANH CHẤP BẢO HIỂM

Công ty bảo hiểm A ký hợp đồng bảo hiểm hàng hoá với B. B ký hợp đồng lưu kho hàng hoá với C. Khi hàng hoá bị lưu tại kho của C thì bị thiệt hại do hoả hoạn. Căn cứ vào hợp đồng bảo hiểm A đã bồi thường toàn bộ thiệt hại …

SỬA ĐỔI BỔ SUNG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

I.         Nội dung tranh chấp 1.     Công ty A đặt hàng sản phẩm máy ủi từ cảng Thượng Hải về Việt Nam. Lô hàng trên được mua bảo hiểm hàng hoá từ công ty B. Hợp đồng bảo hiểm và Giấy chứng nhận bảo hiểm ghi rõ lộ trình hàng hoá được vận chuyển. Trong lúc vận …

BÌNH LUẬN ĐỀ THI KẾT THÚC TẬP SỰ LUẬT SƯ

Tình huống đề thi: Khoảng 08 giờ ngày 2-1-2018, Nguyễn Cường (sinh năm 1982) đến nhà chị HA để hỏi mượn chiếc xe máy về quê. Sau đó, Cường mang đi cầm chiếc xe này được bốn triệu và ăn tiêu, đánh bạc hết. Không biết làm cách nào để có tiền chuộc lại chiếc xe …

DIỆN VÀ HÀNG THỪA KẾ

Nội dung tranh chấp: cụ A sinh sống như vợ chồng với cụ B vào năm 1960 tại miền nam Việt Nam không có đăng ký kết hôn. Đến năm 1963 cụ A có quan hệ tình cảm với cụ C. Cụ A và cụ B có 4 người con ruột và 1 người con …

BÁN ĐẤT ĐANG THẾ CHẤP NGÂN HÀNG

I.   Nội dung tranh chấp từ quyết định giám đốc thẩm số 64/2021/DS-GĐT ngày 08/9/2021 Năm 2007 A được cấp giấy chận quyền sử dụng đất. Năm 2008 A kết hôn với B. Năm 2009 A và B vay của Ngân hàng C và dùng thửa đất trên để thế chấp. Năm 2010 A …

error: Content is protected !!