LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LUẬT HỌC SO SÁNH

15:05 | |

Rất nhiều bạn quan tâm đến chủ đề luật học so sánh. Chính vì vậy công ty Luật TNHH UNILAW xin được chia sẻ với quý bạn đọc về chủ đề này. Ở bài viết này chúng tôi trân trọng giới thiệu đến quý độc giả về luật học so sánh phần 1 với chủ đề lý luận cơ bản về luật học so sánh

  1. KHÁI NIỆM VỀ LUẬT HỌC SO SÁNH

Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, môn học luật học so sánh ngày càng phát huy vai trò đặc biệt của nó. Hiện nay ở Việt Nam, luật học so sánh đang gây hứng thú rất mạnh cho những người nghiên cứu hay hành nghề luật. Vai trò và tầm quan trọng của luật học so sánh được thể hiện ở việc môn học này được đưa vào giảng dạy trong các cơ sở đào tạo luật. Mà trước kia nó chưa từng được quan tâm tới trong quá trình ra đời và phát triển của công tác đào tạo pháp lý từ khi thống nhất đất nước.

Ngày nay hầu hết các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực pháp lý đều chú ý tới phương pháp so sánh pháp luật. Và hầu hết các luật và pháp lệnh đều bị đòi hỏi tham khảo kinh nghiệm nước ngoài trong quá trình soạn thảo và thông qua. Tuy nhiên, sự thống nhất trong nhận thức về một số vấn đề cơ bản của luật so sánh và trong việc giảng dạy luật so sánh vẫn đang còn gặp nhiều khó khăn. Cố nhiên, sự phong phú về các quan điểm khoa học có thể là rất cần thiết, nhưng chúng phải được xây dựng trên một nền tảng nhất định.

Về tên gọi môn học, hiện nay có nhiều tên gọi khác nhau như luật so sánh, phương pháp so sánh luật, các hệ thống pháp luật trên thế giới, hay luật đối chiếu… Tuy cách gọi khác nhau nhưng cách hiểu thống nhất vẫn là: nó không là một ngành luật thực định, chẳng phải luật hình thức hay luật nội dung, cũng không chứa quy phạm điều chỉnh nào. Theo Giáo sư Micheal Bogdan, nhà nghiên cứu hàng đầu về luật học so sánh, trong tác phẩm của mình, đã chỉ rõ nội dung của luật so sánh bao gồm 3 vấn đề:

Một là, so sánh các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới nhằm tìm hiểu các điểm tương đồng và khác biệt giữa chúng.

Hai là, từ những tương đồng và khác biệt đã tìm ra, đi đến giải thích, đánh giá các cách giải quyết khác nhau trong các hệ thống pháp luật khác nhau, phân nhóm các hệ thống pháp luật, tìm ra những cốt lõi, tinh túy của các hệ thống pháp luật dị biệt.

Ba là, Từ kết quả nghiên cứu của (1) và (2), xử lý các vấn đề phát sinh khi nghiên cứu pháp luật nước ngoài.

Từ quan điểm trên, có thể đưa ra khái niệm về luật học so sánh như sau: Luật học so sánh là lý luận, hay là môn khoa học trong các ngành khoa học pháp lý. Mục đích của nó là nghiên cứu và so sánh các văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống pháp luật khác nhau với nhau và với các quy phạm của luật quốc tế, làm sáng rõ sự tương đồng và dị biệt, xác định khuynh hướng phát triển chung của pháp luật, thực hiện hội nhập quốc tế về mặt pháp lý.

  1. VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT HỌC SO SÁNH

Nói tới luật so sánh, có lẽ chúng ta nên bắt đầu từ một vấn đề lịch sử khi mà trường phái luật tự nhiên xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVII-XVIII. Ngoài sự thành công trong việc phân biệt giữa luật tư và luật công, trường phái này còn có một thành công rất đáng kể nữa là thúc đẩy pháp điển hoá. Nhưng không phải ai cũng cho rằng pháp điển hoá là một giá trị. Nó thường bị coi là thủ phạm gây ra sự chia rẽ pháp luật châu Âu có nghĩa là phá vỡ jus commune. Như thế, trào lưu quốc gia hoá tư tưởng pháp luật đã tạo ra hoàn cảnh để luật so sánh phát triển vào cuối thế kỷ XIX và trở thành một môn khoa học pháp lý quan trọng.

Tạm chia ra 2 mốc giai đoạn hình thành và phát triển của luật so sánh như sau:

  • Giai đoạn trước năm 1869:

Luật so sánh vốn không mới mẻ hay hiện đại, mà đã xuất hiện từ trước công nguyên. Lúc đó, các nhà nước trên thế giới đã biết nghiên cứu các văn tự Hiến pháp của các nhà nước khác, trên cơ sở đó xây dựng Hiến pháp cho quốc gia mình. Điển hình là Aristote (384-322 B.C) đã nghiên cứu 158 bản Hiến pháp của các thành bang Hy Lạp và các dân tộc lạc hậu trong tác phẩm Politique của mình.

Từ thế kỷ thứ 1 B.C đến năm 476, Đó là thời kỳ phát triển rực rỡ của La Mã bằng việc bành trướng lãnh thổ, Đế quốc La Mã có lãnh thổ hầu như toàn bộ khu vực Địa Trung Hải. Lần lượt các vùng lãnh thổ như, Hy Lạp (146 B.C), cùng với lãnh thổ Tiểu Á, Syria, Phoenicia, PalestineAi Cập bị sát nhập vào Đế quốc La Mã. Trong thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 2, Đế quốc La Mã phát triển cực thịnh, lãnh thổ rộng lớn, các đô thị của La Mã được xây dựng và để lại cho đến ngày nay, như Londinium, Nguồn gốc cơ bản của luật pháp La Mã có thể chỉ ra luật của 12 chương mục (từ 449 B.C) cho đến những luật lệ của Hoàng dế Justinian I (khoảng 530). Luật pháp của La Mã như là các luật lệ của Justinian, bởi vì nó là cơ sở lý luận và thực tiễn trong thời kỳ Đế chế Byzantine và trong lục địa Tây Âu, và được tiếp tục ở các thời kỳ về sau, cho đến tận thời kỳ thế kỷ 18 của rất nhiều quốc gia. Và cùng với sự bành trướng lãnh thổ đó, Luật pháp La Mã chiếm giữ vị trí độc tôn, nền tảng của hệ thống Civil law sau này. Luật học so sánh thời kỳ này có dấu hiệu chững lại, do vị thế độc tôn, pháp luật La Mã chỉ có những biến đổi nhất định cho phù hợp với từng thời điểm, từng hoàn cảnh, từng phong tục tập quán ở những nơi mà nó gây ảnh hưởng

Đến khi đế chế La Mã chính sức sụp đổ cùng với sự suy tàn của triều đại Byzantine vào năm 1453, người ta lại chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của Luật Giáo hội. Thời kỳ này luật học so sánh như được làm sống lại, và người ta đã có những so sánh giữa luật giáo hội và luật La Mã.

Luật học so sánh ngày càng được quan tâm hơn, đặc biệt là vào thế kỷ XVII và XVIII. Tiêu biểu là 2 học giả Monquas (Hà Lan) và Montesquieu (Pháp) đều tiếp cận các quy định của hệ thống pháp luật nước ngoài hay luật lệ quốc tế, để so sánh và đối chiếu với các quy định của pháp luật quốc gia.

Ở nước Anh, vào thế kỷ XVII, người ta đã so sánh luật giáo hội với thông luật (common law). Ở nước Pháp, các nhà làm luật lại tiến hành so sánh giữa tập quán pháp với hệ thống dân luật của Đức.

Đỉnh cao của Luật học so sánh thời kỳ này chính là tác phẩm “Tinh thần pháp luật” của Montesquieu. Montesquieu bỏ ra gần hai mươi năm nghiên cứu và viết cuốn sách này, bao quát các chủ đề về chính trị, luật, xã hội học, nhân loại học, và cung cấp hơn 3.000 trích dẫn. Bằng phương pháp luật học so sánh hiến pháp và pháp luật tiến bộ của các quốc gia khác nhau, trong luận thuyết chính trị của mình, ông đã bênh vực chủ nghĩa hợp hiến và thuyết tam quyền phân lập, bãi bỏ nô lệ, bảo vệ quyền tự do công dân và nhà nước pháp quyền, và ý tưởng rằng các thể chế luật pháp và chính trị phải phản ảnh đặc tính địa lý và xã hội của từng cộng đồng riêng biệt. Học thuyết nhà nước pháp quyền được thừa nhận rộng rãi và có sức lan tỏa mạnh mẽ về sau.

  • Giai đoạn từ năm 1869 trở về sau:

Năm 1869 có 2 sự kiện quan trọng: Sự ra đời của tạp chí chuyên ngành đầu tiên của luật học so sánh, đó là Tạp chí Luật so sánh do Hội nghiên cứu Luật so sánh của Pháp xuất bản; Và đây cũng là năm đầu tiên mà môn học luật học so sánh được giảng dạy tại các trường đại học

Ngày nay các nhà luật học so sánh đều thừa nhận rằng, Hội Luật So sánh Quốc tế được thành lập 1896 là một sự kiện quan trọng đánh dấu bước khởi đầu cho việc thừa nhận luật so sánh như một bộ môn khoa học pháp lý độc lập. Các dữ kiện trên minh chứng cho việc xem phương pháp so sánh pháp luật là một đặc trưng nổi trội, đồng thời cũng là một đối tượng quan trọng của luật so sánh hay cái gọi là “luật học so sánh”. Đến thế kỷ XX, Luật so sánh còn mang mục đích tìm kiếm sự hài hòa và thống nhất. Thể hiện ở chỗ: Qua nghiên cứu Luật so sánh có thể lý giải, giải tỏa sự dị biệt giữa các hệ thống pháp luật, tiến tới một hệ thống pháp luật ưu việt.

Ở Việt Nam, Luật so sánh đã có những bước phát triển ban đầu ở miền Nam Việt Nam. Những người đã có công truyền bá Luật so sánh ở nước ta đó là Tiến sỹ Ngô Bá Thành và Luật sư Vũ Văn Mẫu. Tiến sỹ Ngô Bá Thành đã có nhiều công trình nghiên cứu về Luật so sánh, đặc biệt là cuốn sách “ Một số ứng dụng của Luật so sánh” xuất bản năm 1965. Trong phần đầu của sách, Tiến sỹ Ngô Bá Thành đã làm rõ một số vấn đề cơ bản của luật so sánh như chức năng của luật so sánh, phương pháp tiếp cận của luật so sánh.

Từ sau năm 1986, khi chính sách mở cửa và hội nhập được thực thi, việc nghiên cứu pháp luật của các nước và pháp luật quốc tế nhằm tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế- thương mại, đã thúc đẩy sự phát triển của luật so sánh.

  1. KHOA HỌC LUẬT SO SÁNH

3.1. Khái niệm:

Để nắm bắt được khoa học luật so sánh, vấn đề có ý nghĩa quyết định là cần phải làm rõ khái niệm luật học so sánh là gì. Trong khoa học pháp lý, từ rất sớm các nhà nghiên cứu đã làm quen với khái niệm so sánh pháp luật, phương pháp so sánh pháp luật là một trong những phương pháp quan trọng của sự nhận thức các hiện tượng pháp luật. Khái niệm luật học so sánh bao gồm: việc nghiên cứu khối lượng các văn bản quy phạm pháp luật, việc sử dụng phương pháp so sánh trong quá trình tiến hành so sánh các hệ thống pháp luật. Đánh giá, sử dụng các phương thức phản ánh và tiếp nhận các yếu tố đó trong hệ thống pháp luật quốc gia hay hệ thống pháp luật quốc gia khác, khuynh hướng, quy luật phát triển chung của pháp luật.

Từ những phân tích trên có thể khái quát luật học so sánh là tổng thể các tri thức về việc nghiên cứu so sánh pháp luật nước ngoài.

Trong quá trình nghiên cứu về luật học so sánh cần phải phân biệt thuật ngữ luật học so sánh trên 3 nghĩa: là một khoa học, là một phương pháp và là một môn học.

  • Với tư cách là một phương pháp nghiên cứu khoa học, so sánh pháp luật là một trong những phương pháp quan trọng của việc nghiên cứu các hiện tượng pháp lý. Thông qua việc sử dụng phương pháp so sánh pháp luật mà chúng ta có khả năng làm sáng tỏ cái chung nhất, cái đặc thù và cái đơn nhất của các hệ thống pháp luật.
  • Với tư cách là một ngành khoa học, luật học so sánh là tổng thể những tri thức khoa học về các hệ thống pháp luật hiện hành được thể hiện trong các công trình ngiên cứu khoa học của các học giả.
  • Với tư cách là một môn học, luật học so sánh là đối tượng giảng dạy tại các cơ sở đào tạo luật, dưới các mức độ khác nhau, cụ thể có thể ở dạng nhập môn luật học so sánh và cũng có thể ở dưới dạng một lĩnh vực cụ thể như luật hành chính so sánh, luật thương mại so sánh, luật hình sự so sánh…

Việc luật học so sánh có phải là một ngành khoa học hay không đã gây ra nhiều sự tranh cãi, tuy nhiên, trong thực tiễn cho thấy, ngày nay có những lĩnh vực, có những vấn đề, có những hệ thống pháp luật sẽ không thể được nghiên cứu có kết quả nếu không tiếp cận dưới góc độ so sánh pháp luật, chẳng hạn như việc nghiên cứu các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới; việc nghiên cứu những cơ sở xã hội, kinh tế, chính trị và truyền thống của sự ra đời và nội dung của các chế định pháp luật tương ứng trong hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau; việc nghiên cứu kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của nước ngoài…. Tất cả điều đó nói lên rằng, luật học so sánh có những đặc điểm, dấu hiệu riêng của một môn khoa học, nó có đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của riêng mình.

3.2. Đối tượng nghiên cứu của luật học so sánh:

Đối tượng nghiên cứu của luật học so sánh là nghiên cứu pháp luật nước ngoài, trên cơ sở đối chiếu các hệ thống pháp luật với nhau và với hệ thống pháp luật quốc gia, cụ thể:

  • Những vấn đề phương pháp luận của việc so sánh trong pháp luật (lý luận về phương pháp so sánh pháp luật);
  • Nghiên cứu so sánh các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới;
  • So sánh các nguồn pháp luật của các hệ thống pháp luật trên thế giới;
  • So sánh các chức năng và một số loại nghiên cứu pháp luật so sánh khác được định hướng về mặt xã hội học;
  • Nghiên cứu so sánh pháp luật về mặt lịch sử.

Với đối tượng nghiên cứu bao gồm những vấn đề khái quát đã đưa ra ở trên cho thấy luật học so sánh là một khoa học. Khoa học luật so sánh được thể hiện trên 2 phương diện, cụ thể:

Thứ nhất, khoa học luật so sánh gắn liền việc sử dụng phương pháp so sánh trong nghiên cứu các chế định pháp luật và các vấn đề cụ thể của đất nước mà người nghiên cứu thuộc về đất nước đó. Trong trường hợp này, vấn đề pháp luật cụ thể được nghiên cứu trên cơ sở so sánh pháp luật rộng lớn hơn hoặc hẹp hơn. Thông thường việc so sánh này thường được tiến hành ở tầm vỹ mô, trong phạm vi của một lĩnh vực pháp luật cụ thể.

Thứ hai, thể hiện với tư cách là việc nghiên cứu mang tính tự trị, độc lập pháp luật nước ngoài ở mức độ các hệ thống pháp luật nói chung, ở mức độ các ngành pháp luật cụ thể và các chế định pháp luật cơ bản, việc nghiên cứu ở góc độ này cho phép xác định khuynh hướng phát triển của pháp luật.

Với đối tượng nghiên cứu rộng, luật học so sánh cung cấp cho người nghiên cứu những kết quả khoa học của riêng nó trên cả hai mặt: nhận thức – lý luận và ứng dụng – thực tiễn. Nó vừa là việc áp dụng phương pháp so sánh với tư cách là phương thức khoa học riêng, đặc thù của việc nghiên cứu, vừa là khuynh hướng của các nghiên cứu về pháp luật nói chung. Ở bình diện là khuynh hướng nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu của luật học so sánh là:

  1. Những vấn đề phương pháp luận của nghiên cứu so sánh pháp luật (ở đây lý luận về phương pháp so sánh chiếm vị trí đặc biệt);
  2. Việc nghiên cứu các hệ thống pháp luật cơ bản hiện nay trên thế giới;
  3. Việc khái quát hóa và hệ thống hóa các kết quả của những nghiên cứu so sánh pháp luật cụ thể;
  4. Việc soạn thảo các quy tắc phương pháp cụ thể và các quá trình của nghiên cứu so sánh pháp luật;
  5. Việc nghiên cứu so sánh pháp luật về mặt lịch sử;
  6. Việc nghiên cứu so sánh những vấn đề pháp lý quốc tế hiện nay.

3.3. Phương pháp nghiên cứu của luật học so sánh

Trong khoa học luật so sánh, phương pháp so sánh pháp luật là một trong những phương pháp quan trọng nhất. Nhờ vào việc áp dụng phương pháp so sánh pháp luật mà chúng ta có khả năng làm sáng tỏ được cái chung, cái đặc thù và cái đơn nhất trong các hệ thống pháp luật hiện nay.

Tính chất và các đặc điểm của phương pháp so sánh pháp luật được làm sáng tỏ khi vận dụng phương pháp giải thích trên hai phương diện:

Thứ nhất, Mối tương quan của nó với các phương pháp khoa học khác.

Thứ hai, vị trí và ý nghĩa của nó trong hệ thống các phương pháp riêng của khoa học pháp lý.

Như vậy phương pháp so sánh pháp luật không thể tiến hành một cách riêng rẽ mà phải kết hợp với các phương pháp khoa học chung. Tuy nhiên, trong luật học so sánh phương pháp so sánh được phản ánh rõ nét qua sự biểu hiện cụ thể: 1, xác định một cách rõ ràng xu hướng chung của việc nghiên cứu pháp luật. 2, bảo đảm sự tác động lẫn nhau một cách đúng đắn của các phương pháp khoa học chung và của các phương pháp khoa học riêng trong quá trình ngiên cứu khoa học.

3.3.1. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể của luật học so sánh

  1. So sánh theo thời gian và không gian

Pháp luật luôn tồn tại trong một khoảng thời gian và không gian nhất định, không có pháp luật trừu tượng, nó có quá khứ, hiện tại và tương lai. Đối tượng của sự so sánh có thể là hệ thống pháp luật với các bộ phận cấu thành của nó đã tồn tại trong lịch sử (so sánh theo thời gian), có thể so sánh pháp luật của các quốc gia trong cùng một hệ thống pháp luật  (so sánh theo không gian).

  1. So sánh bên trong và so sánh bên ngoài

So sánh pháp luật có thể được tiến hành trên các mức độ:

  • So sánh bên trong: là sự so sánh bên trong một quốc gia (đơn nhất hoặc liên bang). Sự so sánh này cho phép đưa ra đặc điểm chung của một hệ thống pháp luật của một quốc gia nhất định. So sánh bên trong có thể tiến hành ở cả hai phương diện thời gian và không gian.
  • So sánh bên ngoài: là sự so sánh bao quát nhiều hệ thống pháp luật khác nhau. Sự so sánh này có thể tiến hành ở việc so sánh pháp luật của quốc gia mình với pháp luật của các quốc gia khác và có thể tiến hành ở tất cả các cấp độ như: hệ thống pháp luật, ngành luật, chế định pháp luật, quy phạm pháp luật… So sánh bên ngoài cũng có thể được tiến hành giữa hệ thống pháp luật thuộc một vùng địa lý nhất định hoặc ngay cả hệ thống pháp luật của liên minh và tổ chức quốc tế khác nhau.
  1. So sánh vi mô và so sánh vĩ mô

So sánh vi mô là sự so sánh được tiến hành ở mức độ các quy phạm và các chế định pháp luật.

So sánh vĩ mô là sự so sánh được tiến hành ở mức độ các hệ thống pháp luật nói chung. Sự so sánh vĩ mô lớn nhất là sự so sánh ở mức độ thế giới được gọi là sự so sánh tổng hợp và toàn cầu. Tuy vậy, sự so sánh toàn cầu không thể bao quát hết được, mà chỉ thể hiện với tư cách sự so sánh đại diện. Về mặt thực tế, không thể so sánh ở góc độ tổng thể, bởi lẽ có gần hai trăm hệ thống pháp luật quốc gia đang tồn tại trên thế giới hiện nay. Để khắc phục điều này, sự so sánh toàn cầu được tiến hành trên cơ sở so sánh các hệ thống cơ bản hiện nay. Sự so sánh này cho phép làm rõ vị trí, mối quan hệ  lẫn nhau của các hệ thống pháp luật cơ bản hiện nay. Sự so sánh này có thể được thực hiện cả ở mức độ các hệ thống pháp luật nói chung, các ngành luật cơ bản, pháp luật vùng.

3.3.2. Những mức độ so sánh khác nhau

So sánh quy phạm: đây là mức độ so sánh thấp nhất. Ở mức độ này sự so sánh thường là so sánh các yếu tố kỹ thuật pháp lý, sự trình bày giống nhau của các quy phạm được so sánh.

Mức độ trung gian: là sự so sánh các chế định pháp luật và các ngành luật. Ở mức độ này sự so sánh giản đơn nhất là sự so sánh về mặt thể chế, quy định pháp luật. Tuy vậy, việc nghiên cứu các chế định pháp luật vẫn phải được bổ sung bằng việc nghiên cứu các nhân tố xã hội gắn liền với hệ thống pháp luật nói chung. Không phải mọi sự vật, hiện tượng đếu có thể đem so sánh mà để việc so sánh có kết quả, hai đối tượng so sánh cần có một điểm chung. Điểm chung này là tiêu chí cần có không chỉ trong so sánh pháp luật mà trong bất cứ loại hình so sánh nào.

Đôi khi tính so sánh của một hiện tượng pháp lý rất dễ nhận dạng thông qua ngôn ngữ, tên gọi, hình thức biểu hiện. Đôi khi tính so sánh của các hiện tượng pháp lý rất khó được phát hiện vì nó không biểu hiện ra bên ngoài mà xét về nội dung quy định của pháp luật. Và cũng có trường hợp đôi khi hình thức biểu hiện ra bên ngoài là giống nhau nhưng không chắc chắn rằng hiện tượng pháp lý để có tính so sánh. Ví dụ: Khi một vấn đề có tính so sánh thì mới so sánh được. Người ta muốn so sánh lời văn của quy định trong pháp luật Đức về hôn nhân với quy định dăng kí bất động sản của Thụy Điển. Hai quy định này có thể so sánh cấu trúc của chúng có những điểm chung, cách phân chia đoạn trong luật của Thủy Điển và của Đức. Mặt khác, so sánh chẳng có ý nghĩa gì nếu ta so sánh nội dung của hai quy phạm pháp luật này, bởi vì chỉ cần xem qua ta có thể nhận thấy nội dung của chúng là hoàn toàn khác nhau.

So sánh các hệ thống pháp luật: đây là mức độ so sánh cao nhất, được tiến hành ở việc so sánh các hệ thống pháp luật ở dạng chỉnh thể của chúng với việc cân nhắc quá trình hình thành và hoạt động của các hệ thống pháp luật đó, các nguyên tắc cơ bản, các nguồn và cơ sở xã hội của chúng.

3.3.3. Sự so sánh quy phạm và so sánh chức năng

Các nghiên cứu so sánh pháp luật có thể được tiến hành bằng hai phương thức: phương thức quy phạm và phương thức chức năng.

Trong sự so sánh quy phạm pháp luật được khởi đầu là các quy phạm pháp luật, các chế định pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật giống nhau. Trong quá trình tiến hành so sánh quy phạm pháp luật cần chú ý là nó có thể dẫn tới hai kết luận cơ bản sau: thứ nhất, các thuật ngữ pháp lý có sự thống nhất về bên ngoài không phải bao giờ cũng có cùng một nghĩa ở các hệ thống pháp luật khác nhau. Thứ hai, cùng các quy phạm, chế định pháp luật như nhau có thể thực hiện những chức năng khác nhau. Có khi pháp luật nước ngoài điều chỉnh các quan hệ xã hội đó ở trong lĩnh vực pháp luật khác hoặc bằng cả những biện pháp không mang tính chất pháp lý.

Sự so sánh chức năng: đây là sự so sánh được tiếp cận các vấn đề xã hội nhất định và sau đó mới đưa ra những quy phạm hoặc chế định pháp luật được sử dụng để giải quyết những vấn đề đó. Trong sự so sánh này vấn đề thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật được chú trọng và như vậy việc so sánh ở đây đã đi từ sự kiện xã hội đến sự điều chỉnh pháp luật.

Trong so sánh chức năng các chế định và quy phạm pháp luật được coi là những cái ngang hàng, nếu chúng giải quyết những vấn đề xã hội giống nhau, dù rằng ngay cả những khi chúng hoàn toàn trái ngược nhau.

Trong so sánh chức năng dưới xu hướng xã hội học cần chú ý tới hai điểm hạn chế cơ bản:

Thứ nhất, pháp luật có thể bị “mở rộng ra” trong môi trường xã hội rộng lớn, bởi vì trong so sánh chức năng cần cân nhắc vai trò của các yếu tố: kinh tế, xã hội, văn hóa, các hình thức tổ chức chính trị, các cơ cấu dân tộc, các nhân tố địa lý và khí hậu…trong sự phát triển của pháp luật.

Thứ hai,  Việc áp dụng nó đòi hỏi nhà luật học so sánh phải có khối kiến thức nền tảng rộng lớn trên các lĩnh vực khoa học khác.

Điều kiện kinh tế: Một trong những điều kiện ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành, phát triển của các quy phạm pháp luật. Các nước có hệ thống kinh tế khác nhau thì có các quy định khác nhau trong các lĩnh vực kinh tế nhưng nếu các quốc gia có hệ thống kinh tế giống nhau nhưng trình độ phát triển kinh tế khác nhau thì hệ thông pháp luật có sự khác biệt.

Điều kiện tự nhiên: Ta có thể lấy ví dụ, pháp luật Việt Nam hiện tại và trước đây có  quy định là miễn giảm thuế cho những vùng thiên tai, dịch họa, tức là do tác động của điều kiện tự nhiên.

Điều kiện xã hội: Bối cảnh đặc trưng xã hội giống nhau thì hệ thống pháp luật cũng có nét tương đồng. Ví dụ: Hiến pháp 1946 có những nét riêng biệt do bối cảnh xã hội lúc đó quyết định.

Yếu tố lịch sử: Lịch sử phát triển của đất nước có ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự hình thành của hệ thống pháp luật. Đây là yếu tố quan trọng để quá trình hình thành những nét tương đồng và khác biệt. Ví dụ: pháp luật Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với pháp luật của Pháp, biểu thị mối quan hệ là Việt Nam đã từng là thuộc địa của Pháp.

Yếu tố địa lý: như đất đai, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên…đều có ảnh hưởng đáng kể đế hệ thống pháp luật nước đó. Ví dụ, Tiêu chuẩn xây dựng công trình kiến trúc ở Nhật Bản là khác so với Việt Nam chúng ta. Do Nhật Bản là đất nước thường xuyên xảy ra động đất nên các tiêu chuẩn phải cao hơn và chặt chẽ hơn. Thời hạn thuê đất canh tác tối đa theo pháp luật Đảo quốc Fiji tại vùng Nam Thái Bình Dương là 75 năm không phải là con số tùy tiện mà là có nguyên nhân từ thực tiễn: 75 năm là số tuổi thọ trung bình của cây dừa (để cho người thuê trồng được hưởng những thành quả)

Yếu tố lý trí, ý thức chủ quan của con người: Những quy định xác định con trong giá thú hay con ngoài giá thú trong Luật hôn nhân gia đình ở các nước là do các nhà làm luật áp đặt ý chí chủ quan của mình.

Yếu tố ngẫu nhiên: Sở thích mang tính cá nhân của những con người vĩ đại có quyền lực to lớn trong một quốc gia cũng có thể ảnh hưởng ít nhiều tới hệ thống pháp luật của quốc gia đó. Người ta nói rằng hoàn cảnh gia đình của Napoleon là nguyên nhân ra đời của một số quy định về gia đình của Pháp khi Bộ luật Dân sự của Pháp được thông qua dưới thời của Napoleon trị vì. Một số đạo luật mang dấu ấn của lạm phát hoặc thông qua vào thời điểm siêu lạm phát, suy thoái, mặc dù người ta có dự định ban hành chúng một cách tạm thời tình thế như vậy.

Yếu tố xét về mặt ý thức hệ: Nếu được xây dựng trên cùng một nền tảng tư tưởng thì hệ thống pháp luật có nhiều nét tương đồng như Hệ thông pháp luật các quốc gia XHCN. Những khác biệt nhỏ trong hệ tư tưởng cũng có thể ảnh hưởng tới hệ thống pháp luật. Ví dụ: Hệ thống pháp luật Thụy Sỹ và Thụy Điển có nhiều điểm tương đồng nhưng lại không có cùng quan điểm về vấn đề sự cần thiết của công bằng xã hội và trách nhiệm của nhà nước đối với phúc lợi của từng thành viên trong xã hội và điều này được thể hiện trong chính sách phúc lợi xã hội và các chính sách về thuế.

Yếu tố khác cũng ảnh hưởng ít nhiều đến các hệ thống pháp luật như Hệ thống chính trị, tôn giáo, dân số học.

  1. LUẬT HỌC SO SÁNH VỚI VIỆC NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI

Nguồn thông tin về hệ thống pháp luật nước ngoài: Rõ ràng điều kiện tiên quyết cơ bản để nghiên cứu pháp luật nước ngoài là khả năng có được những thông tin chính thức, cập nhật các nguồn thông tin đáng tin cậy. Ngày nay, cùng với sự lan tỏa của internet và các công cụ tìm kiếm, người nghiên cứu không còn vất vả lắm để tìm cách tiếp cận các thông tin pháp luật nước ngoài. Vấn đề quan trọng là, các nguồn thông tin có được kiểm chứng hay không? Người nghiên cứu cần phải chắc chắn rằng có được các nguồn thông tin chính thức như các đạo luật, quy định, báo cáo, án lệ … của đất nước có hệ thống pháp luật cần nghiên cứu.
Đôi khi việc sử dụng các nguồn thông tin thứ cấp như sách giáo khoa, các sách tham khảo, các bài báo trong các tạp chí… lại có những ưu thế nhất định khi nghiên cứu pháp luật nước ngoài. Vì chúng có tính đáng tin cậy và đều đã được cô đọng và phân loại.

Giải thích và sử dụng các nguồn luật nước ngoài: Có một thực tế là các luật sư Anh, Mỹ khi nghiên cứu pháp luật châu Âu lục địa, tiếp cận đến các văn bản pháp luật nhưng vẫn hoài nghi nó chưa được khẳng định xử lý bởi các cơ quan Tòa án tối cao, để được coi là có hiệu lực một cách đáng tin cậy. Ngược lại, đối với các luật sư từ các nước châu âu lục địa khi nghiên cứu hệ thống pháp luật Anh – Mỹ thì chỉ tiếp cận đến các văn bản pháp luật (đạo luật) mà không bận tâm đến những án lệ. Ví dụ: Luật sư Anh khi nghiên cứu luật Thụy Điển có thể có nguy cơ xem nhẹ tầm quan trọng của các dự thảo luật và luật sư Thụy Điển khi nghiên luật của Anh quốc cũng có nguy cơ phải sai lầm theo hướng ngược lại. Việc quá đề cao đến án lệ hoặc văn bản pháp luật của các nhà luật học châu âu lục địa hay Anh – Mỹ khi tiếp cận đến hệ thống pháp luật của nhau là sai lầm thường thấy. Vì lẽ, sự thật là trong cả hai hệ thống pháp luật (cilil law hay common law), các luật thành văn và các phán quyết của Tòa án đều là các nguồn luật cho dù vị trí của chúng có khác nhau.

Về vấn đề giải thích luật: Các nguồn luật nước ngoài nên được giải thích như chúng được giải thích tại các nước đã sản sinh ra các nguồn luật ấy. Nếu muốn hiểu một cách chính xác ý nghĩa của đạo luật hay phán quyết của Tòa án nước ngoài thì không thể giải thích các đạo luật hoặc phán quyết đó theo tinh thần của hệ thống pháp luật của nước mình. Đối với hệ thống pháp luật Anh – Mỹ có xu hướng giải thích các hệ thống pháp luật căn cứ vào tinh thần của lời văn, còn đối với hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa tập trung vào tinh thần của các quy định pháp luật.

Nghiên cứu luật nước ngoài đặt trong mối quan hệ tổng thể: Chú ý đến cấu trúc hệ thống pháp luật: Có thể cách phân chia hệ thống của hệ thống pháp luật nước ngoài hoàn toàn khác với cách phân chia hệ thống pháp luật nước của người nghiên cứu. Chẳng hạn, pháp luật của Liên xô và cách đây không lâu, cả pháp luật của Anh trong chừng mực nào đó cũng không có sự phân chia thành luật công và luật tư. Mặt khác, hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa lại không có cách phân chia mà luật của Anh có, như phân chia thành “luật” và “luật công bình”.
Một yếu tố khác không nên bỏ qua đó là các nhà làm luật nước ngoài thậm chí ở một đất nước có các ngành luật tương tự như đất nước của người nghiên cứu có thể sẽ chọn phương pháp khác để đạt được mục đích tương tự và điều đó có nghĩa là các quy định pháp luật có liên quan sẽ nằm ở một bộ phận khác trong hệ thống pháp luật. Ví dụ: Nếu luật gia Thụy Điển quan tâm tới các quy định của pháp luật về trợ cấp xã hội cho gia đình đông con ở Pháp anh ta không nên tự giới hạn việc nghiên cứu trong các quy định của luật về an sinh xã hội như ở Thụy Điển (trợ cấp cho trẻ em, trợ cấp nhà…), bởi vì ở Pháp chính phủ sẽ chia sẻ phần lớn sự trợ giúp tài chính với các gia đình đông con không thông qua hình thức trợ cấp xã hội mà thông qua các quy định của luật thuế dưới hình thức giảm một mức thuế đáng kể cho các gia đình nêu trên, trong khi ở Thụy Điển lại không sử dụng biện pháp này. Có thể khẳng định ta không nên “cắt rời” một chi tiết trong hệ thống pháp luật nước ngoài và chỉ nghiên cứu chi tiết đó mà không tính đến mối quan hệ của chi tiết đó tới các phần còn lại của hệ thống pháp luật.

Bối cảnh xã hội và mục tiêu của các quy định pháp luật : Hệ thống pháp luật là hiện tượng xã hội và chỉ thể hiện bình diện nhất định của xã hội. Vì vậy, không thể tách rời hệ thống pháp luật và các hệ thống xã hội khác mà cần phải có sự quan tâm đến mục tiêu của các quy định trong bối cảnh xã hội đó. Ví dụ: Giả sử nhà nước ban hành đạo luật yêu cầu các cơ quan thuê mướn nhân công phải có nghĩa vụ chi trả học phí học ngôn ngữ cho công nhân nước ngoài mới được tuyển dụng. Xét trên bề mặt, dường như đạo luật này có lợi cho dân nhập cư nhưng thực ra ý đinh và tác dụng của nó lại hạn chế nhập cư bằng cách không khuyến khích các cơ quan sử dụng lao động thuê mướn người nhập cư, và bằng cách đó giảm tỉ lệ thất nghiệp của người lao động trong nước. Như vậy, những luật gia nước ngoài thiếu hiểu biết về bối cảnh của nước này (hiện trạng nền kinh tế, mức độ thất nghiệp, chính sánh nhập cư) dễ có cái nhìn sai lầm về mục đích thực sự của quy định pháp luật nêu trên cũng như tác động thực tế của nó.

Không phải hệ thống pháp luật dựa trên cơ sở giống nhau thì thường tương tự nhau. Các quy định và thiết chế pháp luật giống nhau hoặc tương đồng có thể có những vai trò khác nhau trong các xã hội khác nhau. Ví dụ: Các nước XHCN trước đây ở Đông âu có đạo luật về bảo vệ nhãn mác thương mại rất phát triển, rất chi tiết cho dù nó không có mục đích thực tiễn vì ở các nước khi đó không có thị trường cạnh tranh. Tuy vậy, các nước XHCN này do phải tuân thủ các công ước quốc tế mà họ tham gia nhằm bảo vệ nhãn mác thương mại của chính mình trên thị trường thế giới thì đã ban hành pháp luật về nhãn mác thương mại.

Khi nghiên cứu pháp luật nước ngoài thì chúng ta phải nghiên cứu các hiện tượng văn hóa, lịch sử, đạo đức… Vì tri thức về các lĩnh vực khác nhau của xã hội có hệ thống pháp luật cần nghiên cứu có giá trị không chỉ khi chúng ta muốn xem xét chức năng của một số quy phạm pháp luật mà ngay cả khi ta muốn tìm hiểu cách thức xã hội đó giải quyết những vấn đề chưa được pháp luật điều chỉnh. Ví dụ: Tới ngày 1/1/1993, ở Thụy Điển, quan hệ pháp luật giữa những người tổ chức du lịch và khách hàng không có quy định pháp luật nào điều chỉnh nhưng trên thực tế các tờ quảng cáo hoặc trong các băn bản hợp đồng thì các tổ chức đều viện dẫn đến “các quy định chung về du lịch” do tổ chức thương mại của các nhà tổ chức du lịch phối hợp với tổ chức thanh tra khách hàng ban hành.

Vấn đề dịch thuật ngữ: Khi dịch thuật ngữ thì phải dựa trên quan điểm pháp luật của nước sở tại. Đôi khi sẽ cảm thấy khó khăn khi từ ngữ thì giống nhau nhưng cách hiểu thì khác nhau và đôi khi từ ngữ sử dụng trong nhiều hệ thống pháp luật là khác nhau nhưng cách hiểu là giống nhau. Ví dụ: “hội thẩm nhân dân” và “bồi thẩm đoàn” hay “tổng công ty” và “Tập đoàn công ty.

Xác định phạm vi pháp luật hiện hành:  Đối với một số hệ thống pháp luật thế giới thì pháp luật không dừng lại văn bản mà còn thể hiện ở phong tục, tập quán, tôn giáo… Một hiện tượng thường xảy ra đối với hầu hết các hệ thống pháp luật là một số quy định pháp luật sẽ trở thành lỗi thời, nghĩa là cho dù các quy định ấy có thể về mặt chính thức vẫn còn hiệu lực nhưng trên thực tế người ta đã không còn áp dụng chúng nữa. Một số quy định ở các hệ thống pháp luật dù có ý nghĩa trên giấy tờ còn khả năng thi hành của nó thì không có.

Hệ thống pháp luật của các nước trên thế giới luôn luôn có điểm tương đồng
Điều đó nói lên rằng trong lòng xã hội sự khác biệt của pháp luật không phải cách xa nhau mà có nhiều điểm tương đồng, tương tự nhau.

 5 MỤC ĐÍCH CỦA LUẬT HỌC SO SÁNH

Từ rất sớm trong khoa học pháp lý đã sử dụng luật học so sánh với tư cách là một trong những công cụ, phương tiện để đạt được các mục đích của mình. Thông qua luật học so sánh các quá trình các hiện tượng pháp luật đã được nhận thức một cách sâu sắc hơn. Với ý nghiã đó có thể khái quát các mục đích của luật học so sánh bao gồm:

5.1. Mục đích nhận thức:

Trong nghiên cứu luật học so sánh bao giờ cũng hướng đến việc nghiên cứu một cách sâu sắc và có quy mô các hiện tượng pháp luật. Việc nghiên cứu, đánh giá các hiện tượng pháp luật bao giờ cũng được đặt trong mối quan hệ với sự bên trong của quốc gia. Điều này sẽ các đầy đủ hơn, chính xác hơn nếu các nguyên nhân chung và đặc thù của các hiện tượng pháp luật, các tình huống pháp luật nhất thời và ổn định ở các quốc gia khác và sự ảnh hưởng của chúng cũng được xem xét; các nhân tố dẫn đến sự thay đổi của pháp luật nước ngoài, làm cơ sở cho việc soạn thảo những văn bản quy phạm pháp luật mới và thay đổi các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành; các điều kiện thúc đẩy, kìm hãm hoặc cản trở việc thực hiện pháp luật được nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống.

Việc so sánh nghiên cứu trình độ ý thức pháp luật giữa các quốc gia giúp cho người nghiên cứu nhận thức một cách sâu sắc hơn về cơ chế của hành vi pháp luật của công dân trong giai đoạn nghiên cứu  và trong tương lai khi các văn bản quy phạm pháp luật mới, đặc biệt là các luật được ban hành và có hiệu lực.

Tương tự như vậy, việc so sánh các cơ chế bảo đảm thực hiện pháp luật, bao gồm thẩm quyền xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền được quy định như thế nào trong hệ thống pháp luật hiện hành; trên thực tế các cơ quan này thực hiện thẩm quyền của mình ở mức độ nào; hoạt động của các cơ quan tư pháp, của các cơ quan trợ giúp pháp lý, hỗ trợ tư pháp. Thực tiễn đã chứng minh rằng, nếu thiếu cơ chế bảo đảm cho việc thực hiện pháp luật thì pháp luật sẽ khó đi vào đời sống. Chính vì vậy, nghiên cứu kinh nghiệm pháp lý của các nước sẽ góp phần hình thành những cơ chế bảo đảm pháp luật thích hợp cho nước mình, tránh được những hạn chế mà các nước đi trước đã gặp phải.

Để đạt được mục đích nhận thức, luật học so sánh phải khắc phục các mâu thuẫn, các khó khăn, sai lầm. Ở đây điều này bao gồm cả tính phức tạp, tính năng động của “vật chất pháp luật” được nghiên cứu, so sánh, sự không đầy đủ, tính trung thực của thông tin… Đặc biệt, cần phải tránh những thiên kiến chủ quan từ phía người so sánh.

5.2. Mục đích thông tin:

Mục đích thông tin là mục đích phái sinh từ mục đích nhận thức, mục đích này làm phương tiện cho việc thực hiện mục đích nhận thức.

Để đạt được mục đích thông tin, luật học so sánh cần áp dụng một loạt các phương tiện: Soạn thảo các tài liệu tra cứu về sự phát triển của pháp luật nước ngoài, các thông tin tổng quan về pháp luật nước ngoài…  các tài liệu này cần được chuẩn bị theo các dấu hiệu đất nước học, theo các lĩnh vực pháp luật cụ thể làm dễ dàng cho sự so sánh để tiếp nhận các giá trị của pháp luật mà người nghiên cứu hướng tới.

5.3. Mục đích phân tích:

Trong các mục đích của luật so sánh, đây được coi là mục đích trọng tâm. Luật học so sánh với mong muốn phát hiện, làm rõ các căn nguyên, nguồn gốc các hiện tượng pháp luật trong các hệ thống pháp luật nước ngoài và các xu hướng phát triển của pháp luật nước ngoài, để đạt được mục tiêu này các hiện tượng pháp luật cần phải được nhận thức thấu đáo trên cơ sở phân tích các dữ liệu.

Việc thực hiện mục đích phân tích gắn liền với quá trình thực hiện mục đích nhận thức và mục đích thông tin, bởi trên thực tế chỉ có thể phân tích khi có đầy đủ thông tin cần thiết và nhận thức chính xác, khách quan, đầy đủ về những thông tin đó. Việc thực hiện mục đích phân tích dường như nằm trong quá tình đạt được mục đích nhận thức với việc sử dụng các kết quả của việc thực hiện mục đích thông tin.

5.4. Mục đích liên kết:

Mục đích này được xác định bởi chủ trương của quốc gia hoặc của các quốc gia, của các tổ chức liên quốc gia hướng đến việc làm hài hòa và xích lại gần nhau hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của các quốc gia.

Trong trường hợp này, việc thừa nhận các lợi ích chung của các quốc gia trong sự điều chỉnh phối hợp, việc tìm kiếm và xác định các khách thể của sự điều chỉnh đó, việc làm rõ những khác biệt trong các văn bản quy phạm pháp luật của các quốc gia và các phương tiện có thể để khắc phục những khác biệt đó trở thành tiêu chuẩn của sự  so sánh và đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật của các quốc gia. Muốn vậy, cần phải đảm bảo môi trường, bầu không khí chính trị và tâm lý – xã hội thuận lợi cho các cuộc đàm phán, thảo luận, cho sự đạt được các thỏa thuận.

5.5. Mục đích phê phán:

Mục đích phê phán của luật học so sánh là mục đích đối lập được quyết định bởi các nhân tố chủ quan và khách quan. Ví dụ từ những năm 20 cho đến những năm 70 của thế kỷ 20, trong luật học so sánh của các nước xã hội chủ nghĩa, mục đích so sánh phê phán được đặt lên hàng đầu khi nghiên cứu so sánh hệ thống pháp luật tư bản chủ nghĩa.

5.6. Mục đích tuyên truyền:

Có thể nói mục đích tuyên truyền là mục đích “phúc đáp” của các mục đích trên. Trong thực tiễn, từng quốc gia đều quan tâm đến việc bảo vệ hệ thống pháp luật của mình và tuyên truyền các giá trị, thành tựu của hệ thống pháp luật quốc gia ra bên ngoài. Để đạt được mục đích này, các cơ quan nhà nước, tổ chức khoa học, các phương tiện thông tin đại chúng trong quá trình tuyên truyền bao giờ cũng đề cao nhiều hơn về ý nghĩa của các mặt cụ thể trong hệ thống pháp luật của quốc gia mình.

Việc sử dụng các kết quả quá trình liên kết trong các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội đang trở thành xu thế chung và càng ngày càng trở nên chiếm ưu thế. Trong điều kiện như vậy, luật học so sánh càng khẳng định vị trí của mình, đồng thời phải đáp ứng nhu cầu ngày càng cao. Ứng dụng của khoa học luật so sánh trong khoa học pháp lý là rất lớn, bao trùm các lĩnh vực sau:

  • Sử dụng kết quả nghiên cứu vào quá trình xây dựng pháp luật;
  • Trong hoạt động giải thích pháp luật;
  • Trong thực tiễn áp dụng pháp luật;
  • Trong hoạt động của các chủ thể kinh doanh;
  • Trong các nghiên cứu khoa học;
  • Trong hoạt động đào tạo cán bộ;
  • Trong hoạt động của các tổ chức quốc tế và tổ chức liên quốc gia.
  1. CÁC CHỨC NĂNG CỦA LUẬT HỌC SO SÁNH

6.1.  Chức năng khoa học của luật học so sánh:

Trong xu thế hiện nay, khoa học cơ bản của các khoa học pháp lý là Lý luận chung về pháp luật được người nghiên cứu tách ra trong phạm vi nghiên cứu của nó những nhóm vấn đề mang tính riêng biệt tương đối. Dưới góc độ này, cơ cấu của lý luận chung về pháp luật được xem xét từ quan điểm các khuynh hướng cơ bản của việc phân tích về đối tượng của nó. Chính vì vậy, lý luận chung về pháp luật, xét về mặt cơ cấu, được hình thành từ các khuynh hướng nghiên cứu cơ bản như triết học pháp luật, xã hội học pháp luật, luật học so sánh, tâm lý pháp luật, kỹ thuật pháp lý…

Với đặc thù của mình, luật học so sánh giúp cho việc tiếp cận một cách khoa học các vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của lý luận chung về pháp luật. Với việc sử dụng phương pháp so sánh pháp luật ở hai hình thức: so sánh theo không gian và so sánh theo thời gian giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn tống thể về các hiện tượng nhà nước và pháp luật, từ đó rút ra được những quy luật chung nhất cho sự tồn tại và phát triển của chúng.

Trong thực tiễn thế giới hiện nay, do có các quá trình và sự liên kết của sự hợp tác quốc tế giữa các dân tộc trên thế giới, các lĩnh vực pháp luật đều có xu hướng tiếp nhận lẫn nhau, đặc biệt trên các lĩnh vực: công pháp quốc tế, tư pháp quốc tế để làm rõ quá trình tiếp nhận, ảnh hưởng lẫn nhau của các hiện tượng pháp luật, nhất thể hóa pháp luật nhằm tránh các xung đột pháp luật.

Không chỉ dừng lại trong hệ thống pháp luật quốc tế, đối với các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành, khoa học luật so sánh cũng có một vai trò hết sức to lớn. Luật học so sánh cung cấp những tài liệu cho các khoa học chuyên ngành để khái quát ở trình độ lý luận cao hơn.

6.2. Chức năng giáo dục của luật học so sánh:

Chức năng giáo dục là một chức năng được thể hiện sớm của khoa học luật so sánh. Từ rất sớm các trường đại học phương Tây đã đưa luật học so sánh vào hoạt động giảng dạy, tiêu biểu là ở Pháp, tại đây, hoạt động này đã được tiến hành vào thế kỷ XIX.

Ngày nay, việc giảng dạy luật học so sánh không chỉ diễn ra ở cấp độ quốc gia mà được tiến hành cả ở cấp độ quốc tế. Sau khi thành lập Liên minh Châu Âu, các khoa pháp luật quốc gia và quốc tế, các trường đại học và trung tâm đã tổ chức việc giảng dạy pháp luật Châu Âu. Ở mức độ khác, Theo sáng kiến của nhà luật học so sánh người Tây Ban Nha F. de. Sac- Kanizares khoa pháp luật so sánh quốc tế đã được thành lập năm 1958, Khoa đã tổ chức các kỳ thi ở các nước khác nhau ở Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Á.

Hiện nay, nhìn chung môn học luật học so sánh có cơ cấu như sau:

  • Những vấn đề lý luận của luật học so sánh
  • Phân loại các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới
  • Các hệ thống pháp luật cơ bản
  • Vấn đề nhất thể hóa pháp luật.

6.3. Chức năng thực tiễn của luật học so sánh:

Mục đích của luật học so sánh là nghiên cứu các hệ thống và chế định pháp luật nước ngoài hướng đến việc phát triển hệ thống pháp luật quốc gia, đến việc giải quyết những vấn đề khoa học – ứng dụng được đặt ra với nó.

Luật học so sánh là công cụ không thể thay thế đối với việc hoàn thiện pháp luật quốc gia. Các nghiên cứu so sánh pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị cho sự pháp điển hóa và cải cách rộng lớn các ngành luật. Mặt khác, trên lĩnh vực hoạt động áp dụng pháp luật, các thẩm phán và trọng tài sử dụng kết quả nghiên cứu của luật học so sánh  khi cần phải đề cập đến pháp luật nước ngoài, điều này rất quan trọng trong lĩnh vực tư pháp quốc tế.

6.4. Nhất thể hóa đối với pháp luật:

Nhất thể hóa quốc tế đối với pháp luật là một trong những vấn đề cơ bản của luật học so sánh. Trong thực tiễn quốc tế ngày nay, xu hướng nhất thể hóa quốc tế pháp luật là không thể tránh khỏi. Việc nhất thể hóa được thực hiện bằng 3 phương thức cơ bản dược chỉ ra dưới đây:

  • Ký kết các công ước (phương thức truyền thống). Với việc tham gia công ước, các quốc gia phải điều chỉnh để nội dung của các quy phạm pháp luật quốc gia trở nên phù hợp với các quy định trong công ước.
  • Cùng soạn thảo các quy phạm pháp luật, sau đó các quy phạm được đưa vào pháp luật quốc gia của những nước tham gia vào việc cùng soạn thảo các quy phạm này. Hình thức này tránh cho các quốc gia không bị ràng buộc bởi sự cam kết tiên nghiệm nào đó và mỗi quốc gia sẽ tự giải quyết là khi nào, ở khối lượng như thế nào và dưới hình thức như thế nào sẽ đưa các quy phạm pháp luật đó vào bộ phận hoặc các bộ phận cấu thành pháp luật quốc gia của mình.
  • Một tổ chức chính thức hoặc một tổ chức riêng nào đó soạn thảo đạo luật mẫu- mô hình và sau đó đạo luật mẫu – mô hình đó được đề nghị cho nhà lập pháp của các nước khác nhau. Các nhà lập pháp quốc gia có thể thông qua toàn bộ đạo luật đó, thông qua một phần đạo luật dó hoặc thông qua dưới dạng biến thể.

Mức độ nhất thể hóa cũng có thể được thực hiện ở cấp độ song phương hoặc đa phương, nhất thể hóa vùng hay tổng hợp, nhất thể hóa từng phần hay toàn thể.

Tuy nhiên việc nhất thể hóa pháp luật quốc tế, M. Ansen đã rút ra những kết luận như sau:

  • Nhất thể hóa không còn là khách thể chính của pháp luật so sánh và là sự quan tâm chính của nhà luật học so sánh;
  • Về những vấn đề cụ thể mà đối với chúng việc đạt được sự nhất thể hóa là rất khó khăn, thì giữa các hệ thống pháp luật cụ thể có thể có sự hài hòa, sự phối hợp hoặc sự thống nhất;
  • Trong quá trình chuyển từ nhất thể hóa đơn giản đến sự làm hài hòa mới lại một lần nữa phát hiện ra rằng khoa học cần phải rời xa quy phạm pháp luật và hướng đến các hệ thống pháp luật nói chung.

6.5. Vai trò của Luật so sánh đối với công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế.

Giá trị của Luật so sánh đối với công pháp quốc tế:

Luật so sánh có giá trị đối với quá trình xây dựng điều ước quốc tế ( điều ước song phương hoặc đa phương). Không chỉ vậy, Luật so sánh còn có giá trị đối với nguồn của pháp luật quốc tế, đó là nguồn của điều của điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, luật của các quốc gia trên thế giới.

Luật so sánh giúp xác định nguyên tắc nào là nguyên tắc pháp lý chung của luật quốc tế. Ví dụ: Các quốc gia theo nguyên tắc chung của công pháp quốc tế, có nghĩa vụ đối xử đối với công dân nước ngoài theo chuẩn mực quốc tế tối thiểu phù hợp với các tiêu chuẩn về đạo đức của các gia văn minh, mà chỉ có sử dụng phương pháp nghiên cứu so sánh các hệ thống pháp luật hiện hành mới có thể xác định các chuẩn mực quốc tế tối thiểu mang tính phổ biến.

Giá trị của Luật so sánh đối với tư pháp quốc tế:

 Là lĩnh vực pháp luật đặc biệt điều chỉnh các mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Chủ thể của pháp luật dân sự: Cá nhân, pháp nhân. Nếu như có yếu tố nước ngoài thì quan hệ dân sự không được điều chỉnh bởi pháp luật quốc gia mà bởi tư pháp quốc tế.

Giải quyết các mâu thuẫn và xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế. Ví dụ: Pháp là nơi nhiều nước ngoài gửi tiền nhưng không may xảy ra tranh chấp mà việc giải quyết những tranh chấp đó ở mỗi hệ thống pháp luật khác nhau (xung đột pháp lý). Trong trường hợp này, người ta có sử dụng hai biện pháp: sử dụng xung đột pháp lý hoặc pháp luật thực chất để giải quyết.

Xung đột pháp lý: sử dụng các quy phạm xung đột. quy phạm xung đột là quy phạm không quy định quyền và và nghĩa vụ của các bên mà chỉ ra hệ thống pháp luật nào được viện dẫn để giải quyết (quy phạm này cung cấp kiến thức pháp luật của nhiều nước trên thế giới).

Pháp luật thực chất: Sử dụng quy phạm thực chất là quy phạm có quy định quyền và nghĩa vụ của các bên cụ thể hoặc các điều ước quốc gia đã thống nhất.

  1. Ý NGHĨA CỦA LUẬT HỌC SO SÁNH

Luật học so sánh có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong đời sống chính trị – pháp lý hiện đại. Trong sự kết hợp giữa cách nhìn mang tính lịch sử  truyền thống, với cách nhìn quy phạm và xã hội học đối với pháp luật, các nghiên cứu pháp luật so sánh cho phép:

Nghiên cứu các hiện tượng của hiện thực pháp luật mà luật học chưa bao quát hết trước đây, nó vượt ra khỏi phạm vi dân tộc của hệ thống pháp luật quốc gia.

Quan tâm dưới góc nhìn đặc biệt đến một loạt các vấn đề mang tính truyền thống của khoa học pháp lý với việc cân nhắc các xu hướng phát triển của pháp luật trên thế giới hiện nay, cụ thể:

  • Luật học so sánh có ý nghĩa với khoa học pháp lý của mọi quốc gia, qua luật học so sánh cho phép xác định cùng một vấn đề các quốc gia có những phương thức giải quyết như thế nào, mở rộng tầm hiểu biết qua các nghiên cứu pháp lý, cho phép đúc kết các kinh nghiệm pháp lý cả ở khía cạnh tích cực và tiêu cực.
  • Luật học so sánh giúp cho việc hợp tác quốc tế thực hiện được dễ dàng hơn.
  • Luật học so sánh vươn tới để nắm giữ tất cả các hệ thống pháp luật cơ bản hiện nay.

Luật học so sánh là ngành khoa học liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau, cụ thể:

  • Liên quan đến những quan niệm chung của lý luận chung về nhà nước và pháp luật.
  • Liên quan đến các lĩnh vực pháp lý chuyên ngành.
  • Nghiên cứu luật học so sánh vừa có ý nghĩa pháp lý sâu sắc, vừa có ý nghĩa chính trị – xã hội quan trọng
  • Luật học so sánh là một hướng nghiên cứu khoa học pháp lý mang tính chất tổng hợp có ý nghĩa lý luận – khoa học và thực tiễn – ứng dụng. Nó là công cụ thích hợp nhất của việc nhận thức các xu hướng cơ bản của sự phát triển pháp luật trong thời đại ngày nay.

Trong quá trình so sánh pháp luật cần phải khắc phục các xu hướng:

  • Tình trạng so sánh “phê phán”.
  • Áp đặt các tư tưởng chủ quan thuộc hệ thống pháp luật quốc gia mình lên pháp luật nước ngoài.
CÔNG TY LUẬT TNHH UNILAW
Hotline: 0912173618
error: Content is protected !!