TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG VÀ SỰ VÔ HIỆU CỦA HỢP ĐỒNG

00:24 | |

I/ Tổng quan về hợp đồng

1. Hợp đồng và sự hình thành của hợp đồng

Hợp đồng là sự thoả thuận của các bên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Hợp đồng hình thành dựa trên sự chấp thuận lời đề nghị giao kết hợp đồng của bên đề nghị. Lời đề nghị và sự chấp thuận có thể thực hiện bằng văn bản, lời nói, hành vi. Hợp đồng hình thành kể từ thời điểm kí kết và bên được được đề nghị chấp nhận toàn bộ lời đề nghị.

Hợp đồng được phân loại theo tính đơn vụ hoặc song vụ; có đền bù hoặc không có đền bù; tính thương mại hay tính dân sự của hợp đồng. Theo đó hợp đồng dân sự có thể hiểu theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp. Tính dân sự của hợp đồng được hiểu rộng nhất là sự giao kết hợp đồng giữa các cá nhân, pháp nhân với nhau, trong khi đó hợp đồng dân sự theo nghĩa hẹp được hiểu là hợp đồng một trong các bên tham gia không phải là thương nhân theo quy định của luật thương mại.

2. Hiệu lực của hợp đồng

Hiệu lực là sự ràng buộc các bên phải thực hiện các nghĩa vụ do mình thoả thuận. Thời điểm hợp đồng có hiệu lực kể từ khi hợp đồng được ký kết, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là trước hoặc sau thời điểm ký kết.

Khi hợp đồng có hiệu lực các bên phải thực hiện hiện các nghĩa vụ “chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác” quy định tại Điều 147 BLDS 2015. Tuỳ theo từng loại hợp đồng cụ thể mà các nghĩa vụ sẽ khác nhau.

II/ Sự vô hiệu của hợp đồng

1. Hợp đồng vô hiệu

Hợp đồng vô hiệu là hợp đồng bị mất hiệu lực hiễn nhiên, hay theo yêu cầu của một hay các bên mà toà án tuyên hợp đồng vô hiệu. Trong trường hợp hợp đồng giao kết khi chủ thể không có năng lực pháp luật, năng lực hành vi phù hợp với giao dịch; hay bị cưởng ép, đe doạ; mục đích của hợp đồng vi phạm điều cấm của Luật, trái đạo đức xã hội; hay không đáp ứng yêu cầu về hình thức thì đều bị vô hiệu theo Điều 122 BLDS 2015.

2. Các trường hợp khiến cho hợp đồng vô hiệu

Hợp đồng vô hiệu do không đáp ứng được điều kiện về năng lực pháp luật hoặc năng lực hành vi:

Khi giao kết hợp đồng người giao kết phải đáp ứng đủ các điều kiện về độ tuổi, khả năng nhận thức về hành vi và khả năng pháp luật cho phép chủ thể tham gia vào mối quan hệ. Theo đó trong trường hợp người người tham gia giao dịch không đáp ứng quy định về độ tuổi cũng như có năng lực hành vi đầy đủ thì hợp đồng được giao kết trở nên vô hiệu.

Trừ trường hợp người mất năng lực hành vi hay người chưa đủ sáu tuổi thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của bản thân hay trường hợp người mất năng lực hành vi là bên chỉ có quyền trong giao dịch theo Khoản 2 Điều 125 BLDS 2015.

Hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn hay bị cưỡng ép đe doạ:

Lừa dối là việc cung cấp các thông tin sai sự thật về đối tượng, nội dung của giao dịch mà mục đích của bên bị lừa dối không thể đạt được thì hợp đồng vô hiệu2. Trong khi đó cưỡng ép là sự đe doạ hoặc sử dụng vũ lực hoặc hành vi tương tự nhằm buộc bên còn lại phải thực hiện giao dịch3.

Trong trường hợp này khi có yêu cầu của bên bị đe doạ, cưỡng ép nhầm lẫn thì hợp đồng bị toà án tuyên bố vô hiệu. Trường hợp người bị cưởng ép, đe doạ, nhầm lẫn đồng ý thì hợp đồng vẫn có giá trị.

Hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của Luật hoặc trái đạo đức xã hội:

Điều cấm của luật là những điều luật quy định không được làm, đạo đức xã hội là quy chuẩn lâu đời được xã hội công nhận và phù hợp vơí quy định của pháp luật. Khác với các BLDS 2005 trước đó BLDS 2015 đã có thay đổi theo tinh thần của Hiến pháp 2013, theo đó các văn bản dưới luật không còn được quy định hạn chế quyền dân sự của công dân.

Hợp đồng vô hiệu do vi phạm về hình thức:

Khi pháp luật có yêu cầu về việc hợp đồng phải được lập dưới hình thức nhất định như hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế phải được lập thành văn bản, hay hợp đồng có liên quan đến quyền sử dụng đất phải được công chứng theo quy định. Mà khi xác lập các bên không tuân thủ về hình thức thì có thể dẫn đến vô hiệu. Trừ trường hợp các bên đã thực hiện từ 2/3 nghĩa vụ trong hợp đồng trên.

Xem thêm: GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU DO GIẢ TẠO

ĐỖ NHƯ HƯNG

Tốt nghiệp ngành Luật Đại học Tôn Đức Thắng. Năm 2019, Luật sư Hưng học tập và nghiên cứu trong chương trình Thạc sĩ luật kinh tế tại Đại học Tôn Đức Thắng. Năm 2020, Luật sư Hưng tham gia lớp đào tạo kỹ năng hành nghề Luật sư tại Học viện tư pháp. Luật …

error: Content is protected !!