TIỀN THÁCH CƯỚI DƯỚI GÓC NHÌN PHÁP LÝ

00:04 | |

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhà trai trả tiền thách cưới khi lấy vợ có được nhận lại khi ly hôn ?

BÌNH LUẬN

Theo truyền thống tại một số địa phương, khi tổ chức tiệc cưới nhà trai phải đưa bên nhà gái một số tiền gọi là tiền thách cưới. Trong trường hợp sau khi kết hôn hợp pháp mà vợ, chồng vì một số lý do nhất định phải thực hiện thủ tục ly hôn thì người chồng sẽ không nhận lại được “tiền thách cưới” bởi lẽ.

Đưa tiền thách cưới chính là dạng hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện. Nội dung hợp đồng bao gồm việc bên tặng cho (nhà trai) tặng khoản tiền nhất định cho bên nhận tặng cho (nhà gái) với điều kiện con cái của họ sẽ trở thành vợ chồng.

Trong trường hợp này căn cứ Khoản 1 Điều 485 BLDS 2015 Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản,[…]” đồng thời căn cứ Khoản 1 Điều 462 BLDS 2015Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.”.

Như vậy trong trường hợp này hợp đồng tặng cho đã hoàn thành kể từ thời điểm người nhận tặng cho chiếm hữu tài sản. Đồng thời điệu kiện ràng buộc là các bên đã đăng ký kết hôn hợp pháp đã xảy ra nên bên nhận tặng cho không phải hoàn trả tài sản mà mình đã nhận.

Thực tiễn xét xử tại BẢN ÁN 06/2021/HNGĐ-PT NGÀY 20/07/2021 toà án bác yêu cầu đòi lại tài sản tặng cho dựa trên căn cứ “[…] Theo quy định tại Điều 7 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, không trái với nguyên tắc quy định tại Điều 2 và không vi phạm điều cấm của Luật này được áp dụng”. Như vậy việc thách cưới bằng tiền không phải là tập quán tốt đẹp, pháp luật không thừa nhận việc này;[…]”.

Với lập luận trên toà bác bỏ lập luận về tập quán bởi lẻ toà cho rằng “thách cưới” không phải là tập quán nên không được chấp nhận. Chúng tôi lại có góc nhìn khác trong vấn đề này. Theo đó căn cứ Khoản 2 Điều 5 BLDS 2015 “[…] Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán […]”. Như vậy chỉ khi nào pháp luật không có quy định thì tập quán mới được xem xét để áp dụng, tuy nhiên như phân tích ở trên quan hệ tranh chấp được xác định là “tranh chấp hợp đồng tặng cho có điều kiện” đã được pháp luật quy định nên không cần xem xét đến việc có tồn tại tập quán hay không.

ĐIỀU LUẬT DẪN CHIẾU

Điều 5. Áp dụng tập quán

1. Tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự.

2. Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán nhưng tập quán áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này.

Điều 458. Tặng cho động sản

1. Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Đối với động sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký.

Điều 462. Tặng cho tài sản có điều kiện

1. Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.

3. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

BẢN ÁN 06/2021/HNGĐ-PT NGÀY 20/07/2021

[2] Xét kháng cáo của anh Hoàng Quang T, kháng cáo yêu cầu chị Hoàng Thị A phải trả tiền ăn hỏi, thách cưới với số tiền là 20.000.000 đồng. Theo quy định tại Điều 7 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, không trái với nguyên tắc quy định tại Điều 2 và không vi phạm điều cấm của Luật này được áp dụng”. Như vậy việc thách cưới bằng tiền không phải là tập quán tốt đẹp, pháp luật không thừa nhận việc này; vợ chồng lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, cùng xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc.

Xem thêm: BẢN ÁN 108/2019/HS-ST NGÀY 25/09/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

ĐỖ NHƯ HƯNG

Tốt nghiệp ngành Luật Đại học Tôn Đức Thắng. Năm 2019, Luật sư Hưng học tập và nghiên cứu trong chương trình Thạc sĩ luật kinh tế tại Đại học Tôn Đức Thắng. Năm 2020, Luật sư Hưng tham gia lớp đào tạo kỹ năng hành nghề Luật sư tại Học viện tư pháp. Luật …

error: Content is protected !!