DIỆN VÀ HÀNG THỪA KẾ

01:10 | |

Nội dung tranh chấp: cụ A sinh sống như vợ chồng với cụ B vào năm 1960 tại miền nam Việt Nam không có đăng ký kết hôn. Đến năm 1963 cụ A có quan hệ tình cảm với cụ C. Cụ A và cụ B có 4 người con ruột và 1 người con nuôi là bà L được chứng nhận bởi phòng lục sự toà sơ thẩm Sài Gòn. Cụ A và cụ C có với nhau 5 người con ruột. Các cụ A; B; C chết không để lại di chúc. Bà L khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế.

              a) Khái niệm diện thừa kế

Diện thừa kế chỉ chủ thể có quyền hưởng di sản thừa kế theo nguyên tắc Huyết thống; Hôn nhân và Nuôi dưỡng.

Diện thừa kế theo nguyên tắc huyết thống:

Diện thừa kế theo huyết thổng chỉ việc người hưởng di sản thừa kế có quan hệ huyết thống về trực hệ với người để lại di sản thừa kế được BLDS xếp vào hàng thừa kế.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 651 BLDS 2015 diện thừa kế theo huyết thống bao gồm cha đẻ, mẹ đẻ, con đẻ, của người chết đối với hàng thừa kế thứ nhất; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại đối với hàng thừa kế thứ hai; cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại đối với hàng thừa kế thứ ba.

Diện thừa thừa kế theo nguyên tắc hôn nhân

Diện thừa kế theo quan hệ hôn nhân chỉ việc vợ, chồng được quyền hưởng di sản của nhau sau khi vợ hoặc chồng qua đời. Quan hệ hôn nhân làm cơ sở phát sinh diện thừa kế hình thành trên hai cơ sở là hôn nhân thực tế và hôn nhân có đăng ký hợp pháp. Diện thừa kế là vợ, chồng được xếp vào hàng thừa kế thứ nhất quy định tại khoản 1 Điều 651 BLDS 2015.

Trong đó hôn nhân thực tế là việc nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng trước ngày 3/1/1987 mà không đăng ký kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10: “Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000”.

Đối với diện thừa kế theo quan hệ hôn nhân có đăng ký hợp pháp là quan hệ vợ chồng có đăng ký hợp pháp theo luật hôn nhân và gia đình căn cứ khoản 1 Điều 31 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: “Vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau theo quy định của luật về thừa kế”.

Diện thừa kế theo nguyên tắc nuôi dưỡng

Diện thừ kế theo quan hệ nuôi dưỡng có đăng ký hợp pháp là việc cha mẹ nuôi và con nuôi hợp pháp được hưởng di sản thừa kế của nhau. Quan hệ cha me nuôi và con nuôi phải tuân thủ luật nuôi con nuôi con nuôi theo đó căn cứ khoản 2, 3 Điều 3 Luật nuôi con nuôi 2010: “Cha mẹ nuôi là người nhận con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký. Con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký.”.

Diện thừa kế theo quan hệ nuôi dưỡng thực tế trường hợp phát sinh quyền giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi theo điểm a Mục 6 Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/1/1988 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Luật HN&GĐ năm 1986 quy định: “Những điều kiện về nuôi con nuôi đã được quy định trong các Điều 34, 35, 36, và 37 nhưng trước khi Luật này được ban hành thì những điều kiện đó chưa được quy định đầy đủ. Vì vậy, những việc nuôi con nuôi trước khi ban hành Luật mới vẫn có giá trị pháp lý, trừ những trường hợp nuôi con nuôi trái với mục đích xã hội của việc nuôi con nuôi (như: nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động hoặc để dùng con nuôi vào những hoạt động xấu xa, phạm pháp). Nếu việc nuôi con nuôi trước đây chưa được ghi vào sổ hộ tịch nhưng việc nuôi con nuôi đã được mọi người công nhận và cha mẹ nuôi đã thực hiện nghĩa vụ với con nuôi thì việc nuôi con nuôi vẫn có những hậu quả pháp lý do luật định […]”.

         b) Khái niệm hàng thừa kế

Hàng thừa kế là sự ưu tiên tuần tự theo quy định của pháp luật mà người thuộc các diện thừa kế được ưu tiên nhận di sản thừa kế do người chết để lại, theo đó người ở hàng thừa kế cao hơn sẽ được ưu tiên nhận di sản của người chết.

          c) Diện thừa kế và hàng thừa kế theo hồ sơ vụ việc

Diện thừa kế và hàng thừa kế theo quan hệ hôn nhân thực tế của chồng là cụ A và vợ là cụ B và cụ C

Các bên tham gia tố tụng đã thừa nhận về việc cụ A và cụ B chung sống như vợ chồng trước ngày 3/1/1987 nên căn cứ điểm a khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10: “Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000”. Như vậy cụ quan hệ giữa cụ A và cụ B là quan hệ hôn nhân thực tế được pháp luật thừa nhận.

Do cụ A chung sống như vợ chồng với cụ B đầu tiên nên cụ B được xem là vợ hợp pháp với cụ A. Đến năm 1963 cụ A có quan hệ tình cảm với cụ C nên căn cứ Điều 3, Luật HNGD 1959 không cho phép chế độ đa thê. Tuy nhiên, Luật HNGĐ 1959 chỉ có hiệu lực ở miền Bắc vào 13/1/1960. Còn cụ A và cụ C, cụ B sinh sống tại Miền Nam Việt Nam và do thời điểm đó quan hệ hôn nhân nhiều vợ, nhiều chồng vẫn còn tồn tại và được công nhận tại Miền nam Việt Nam. Nên cụ B và cụ C đều được công nhận là vợ hợp pháp của cụ A và được hưởng di sản thừa kế của nhau.

Căn cứ hồ sơ vụ án cụ Nguyễn A chết ngày 4/1/2002, cụ Trần Thị B chết ngày 22/8/2007 và cụ Nguyễn Thị C chết năm 2007. Nên cụ B và cụ C thuộc diện thừa kế theo quan hệ hôn nhân và được xếp vào hàng thừa kế thứ nhất của cụ A theo điểm a khoản 1 Điều 679 BLDS 1995 (luật có hiệu lực tại thời điểm mở thừa kế).

Diện thừa kế theo Huyết thống và nuôi dưỡng giữa con ruột, con nuôi của hai cụ Nguyễn A và Trần Thị B đối với cha, mẹ của mình.

Căn cứ vào hồ sơ vụ án cụ Nguyễn A và cụ Trần Thị B có 5 người con ruột. Từ năm 1951 cụ A và cụ B có nhận bà Nguyễn Thị Kim L làm con nuôi nhưng không đăng ký. Tại bút lục số 8 có tài liệu của Chánh lục sự Toà sơ thẩm Sài Gòn xác định bà C là con nuôi của cụ A và cụ B.

Căn cứ điểm a Mục 6 Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/1/1988 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định: “Những điều kiện về nuôi con nuôi đã được quy định trong các Điều 34, 35, 36, và 37 nhưng trước khi Luật này được ban hành thì những điều kiện đó chưa được quy định đầy đủ. Vì vậy, những việc nuôi con nuôi trước khi ban hành Luật mới vẫn có giá trị pháp lý, trừ những trường hợp nuôi con nuôi trái với mục đích xã hội của việc nuôi con nuôi (như: nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động hoặc để dùng con nuôi vào những hoạt động xấu xa, phạm pháp). Nếu việc nuôi con nuôi trước đây chưa được ghi vào sổ hộ tịch nhưng việc nuôi con nuôi đã được mọi người công nhận và cha mẹ nuôi đã thực hiện nghĩa vụ với con nuôi thì việc nuôi con nuôi vẫn có những hậu quả pháp lý do luật định […]”.

Vì bà L được nhận nuôi vào 1951 trước thời điểm Luật hôn nhân và gia đình 1986 có hiệu lực tuy nhiên việc bà L là con nuôi của cụ A và cụ B đã được mọi người thừa nhận. Cụ A và cụ B đã thực hiện quyền của cha, mẹ để chăm sóc và nuôi dưỡng bà L nên bà L là con nuôi của cụ A và cụ B.

Vì cụ A chết năm 2002, cụ B chết năm 2007 căn cứ điểm a khoản 1 Điều 679 BLDS 1995 (luật có hiệu lực tại thời điểm cụ A chết) và điểm a khoản 1 Điều 676 BLDS 2005 (luật có hiệu lực tại thời điểm cụ B chết) thì các con ruột và con nuôi của 2 cụ thuộc hàng thừa kế thứ nhất.

Diện thừa kế theo Huyết thống và nuôi dưỡng giữa con ruột của hai cụ A và C đối với cha, mẹ của mình.

Căn cứ vào hồ sơ vụ án cụ C và cụ A có năm người con ruột. Những người con này đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất.

Xem thêm: BẢN ÁN 25/2019/DS-PT NGÀY 27/12/2019 VỀ TRANH CHẤP THỪA KẾ TÀI SẢN

https://tapchitoaan.vn/bai-viet/trao-doi-y-kien/toa-an-co-xac-dinh-thieu-di-san-thua-ke-hay-khong6131.html

Vi phạm quy định phòng cháy khi đã mua bảo hiểm cháy nổ

Người mua bảo hiểm cháy nổ vi phạm điều kiện bảo hiểm đã thoả thuận. Theo đó bên mua bảo hiểm cam kết luôn tuân thủ quy định về phòng cháy. Tuy nhiên, nguyên nhân vụ cháy được xác định là do người mua bảo hiểm vi phạm quy định về phòng chống cháy nổ. …

MẤT QUYỀN PHẢN ĐỐI TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI

Nội dung tranh chấp Tại toà án A cho rằng hội đồng trọng tài ra phán quyết xác định. Việc A làm việc cho công ty đối thủ của B trong thời hạn 5 năm kể từ ngày hợp đồng lao động chấm dứt là vi phạm thoả thuận. A có nghĩa vụ bồi thường …

BẢO MẬT THÔNG TIN TRONG HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

Nội dung tranh chấp:  A ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với công ty B. Tại phụ lục 01 có nội dung thoả thuận bảo mật thông tin (NDA) rằng sau khi chấm dứt hợp đồng lao động A sẽ không làm việc cho công ty đối thủ trong thời gian 5 năm. …

BỒI THƯỜNG DO XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ

I.         Nội dung tranh chấp A là chủ sở hữu quyền tác giả đối với phần mềm z. B sử dụng phần mềm trên các trang thiết bị của mình mà không sinh phép và không mua bản quyền. A khởi kiện yêu cầu B chấm dứt hành vi vi phạm; bồi thường thiệt hại và …

THOẢ THUẬN LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM BẢO HIỂM

I.  Nội dung tranh chấp A bán hàng đông lạnh là xoài cho B theo phương thức CIF. A mua bảo hiểm của C cho lô hàng trên. Trong lúc vận chuyển hàng hoá bị hỏng do không được bảo quản trong nhiệt độ thích hợp, lỗi dẫn đến hư hỏng không phải do máy …

QUAN HỆ TRANH CHẤP BẢO HIỂM

Công ty bảo hiểm A ký hợp đồng bảo hiểm hàng hoá với B. B ký hợp đồng lưu kho hàng hoá với C. Khi hàng hoá bị lưu tại kho của C thì bị thiệt hại do hoả hoạn. Căn cứ vào hợp đồng bảo hiểm A đã bồi thường toàn bộ thiệt hại …

SỬA ĐỔI BỔ SUNG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

I.         Nội dung tranh chấp 1.     Công ty A đặt hàng sản phẩm máy ủi từ cảng Thượng Hải về Việt Nam. Lô hàng trên được mua bảo hiểm hàng hoá từ công ty B. Hợp đồng bảo hiểm và Giấy chứng nhận bảo hiểm ghi rõ lộ trình hàng hoá được vận chuyển. Trong lúc vận …

BÌNH LUẬN ĐỀ THI KẾT THÚC TẬP SỰ LUẬT SƯ

Tình huống đề thi: Khoảng 08 giờ ngày 2-1-2018, Nguyễn Cường (sinh năm 1982) đến nhà chị HA để hỏi mượn chiếc xe máy về quê. Sau đó, Cường mang đi cầm chiếc xe này được bốn triệu và ăn tiêu, đánh bạc hết. Không biết làm cách nào để có tiền chuộc lại chiếc xe …

DIỆN VÀ HÀNG THỪA KẾ

Nội dung tranh chấp: cụ A sinh sống như vợ chồng với cụ B vào năm 1960 tại miền nam Việt Nam không có đăng ký kết hôn. Đến năm 1963 cụ A có quan hệ tình cảm với cụ C. Cụ A và cụ B có 4 người con ruột và 1 người con …

BÁN ĐẤT ĐANG THẾ CHẤP NGÂN HÀNG

I.   Nội dung tranh chấp từ quyết định giám đốc thẩm số 64/2021/DS-GĐT ngày 08/9/2021 Năm 2007 A được cấp giấy chận quyền sử dụng đất. Năm 2008 A kết hôn với B. Năm 2009 A và B vay của Ngân hàng C và dùng thửa đất trên để thế chấp. Năm 2010 A …

error: Content is protected !!